Tổng quan nghiên cứu

Năm 2008, ngành du lịch toàn cầu chỉ đạt mức tăng trưởng khoảng 2% do tác động từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới, kéo theo lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 4,3 triệu lượt, chỉ tăng 0,6% so với năm 2007 và thấp hơn chỉ tiêu 5 triệu lượt đề ra. Trong bối cảnh đó, tỉnh Thừa Thiên Huế với nguồn tài nguyên du lịch nhân văn đồ sộ gồm quần thể di tích Cố đô Huế với 253 công trình kiến trúc Đại Nội, lăng tẩm của 7 đời vua triều Nguyễn cùng 120 km bờ biển và hệ thống đầm phá Tam Giang rộng 52 km2 vẫn chưa khai thác hết tiềm năng vốn có. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm rõ những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của du lịch địa phương trong giai đoạn biến động kinh tế.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là nhận diện toàn diện các nhân tố kìm hãm sự tăng trưởng, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế qua chuỗi số liệu từ năm 1991 đến năm 2008, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển đồng bộ và khả thi đến năm 2015. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các hoạt động du lịch, lữ hành, cơ sở lưu trú và liên kết vùng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong tương quan với các trung tâm du lịch miền Trung.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp địa phương tái cơ cấu ngành dịch vụ, phấn đấu nâng tỷ lệ phòng khách sạn đạt chuẩn cao cấp từ mức 71,5% lên trên 85%, đồng thời nâng cao ngày khách lưu trú bình quân của khách quốc tế vượt mức 2,2 ngày, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế xã hội tỉnh nhà.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng luận thuyết Cái nhìn của du khách của John Urry công bố năm 2002, giải thích nhu cầu tìm kiếm những trải nghiệm khác biệt với đời sống thường nhật thông qua việc chiêm ngưỡng cảnh quan và di sản. Đồng thời, luận văn kết hợp mô hình phát triển du lịch bền vững dựa trên sự tương tác của 4 nhóm chủ thể trọng tâm: du khách, đơn vị cung ứng dịch vụ, chính quyền quản lý và cộng đồng dân cư bản địa. Cơ sở lý luận còn dựa trên lý thuyết ngoại thương và xuất khẩu tại chỗ của Tổ chức Du lịch Thế giới, nhìn nhận du lịch như một ngành xuất khẩu vô hình mang lại nguồn thu ngoại tệ vượt trội mà không làm tiêu hao tài nguyên gốc.

Khung phân tích của đề tài bao quát 4 khái niệm cốt lõi:

  • Sản phẩm du lịch: Tổng thể phức hợp các dịch vụ và hàng hóa phi vật thể thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm của du khách.
  • Tài nguyên du lịch: Bao gồm tài nguyên tự nhiên và 34 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia cùng di sản phi vật thể Nhã nhạc cung đình Huế.
  • Tính mùa vụ trong du lịch: Sự dao động lượng khách theo chu kỳ thời tiết với lượng mưa trung bình tại Huế lên tới 2.740 mm/năm.
  • Khách du lịch: Định nghĩa chuẩn hóa theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 phân định rõ giữa khách nội địa và quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế, báo cáo tổng kết giai đoạn 1991–2008 của Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế, Tổng cục Du lịch Việt Nam và Ngân hàng Thế giới. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp nghiên cứu định tính với kỹ thuật phỏng vấn sâu.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 35 chuyên gia, nhà quản lý tại các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Du lịch, các viện nghiên cứu và lãnh đạo doanh nghiệp lữ hành, khách sạn tiêu biểu trên địa bàn tỉnh. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phi xác suất theo mục tiêu nhằm khai thác tối đa kinh nghiệm chuyên sâu và đánh giá xác đáng của các bên liên quan về rào cản ngành.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian kết hợp suy luận logic là nhằm lượng hóa chính xác tốc độ tăng trưởng doanh thu, biến động cơ cấu tại 280 cơ sở lưu trú và đối sánh trực quan năng lực cạnh tranh của Huế với các địa phương lân cận trong suốt giai đoạn 1991–2008, tạo tiền đề định hình giải pháp đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ sở vật chất lưu trú tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng chưa đồng đều. Tính đến cuối năm 2008, toàn tỉnh có 280 cơ sở lưu trú với 5.172 phòng tại 149 khách sạn, tăng 13 khách sạn so với năm 2007. Tuy nhiên, toàn tỉnh chỉ có 37 cơ sở lưu trú xếp hạng 1 đến 5 sao và 52 cơ sở đạt tiêu chuẩn tối thiểu, dù chiếm 71,5% tổng số phòng nhưng số lượng khách sạn cao cấp 4 đến 5 sao vẫn còn rất khiêm tốn.

Thứ hai, doanh thu du lịch và tốc độ thu hút khách của Thừa Thiên Huế có dấu hiệu tụt hậu khi đặt cạnh các địa phương lân cận. Năm 2008, doanh thu chuyên ngành du lịch của thành phố Đà Nẵng đạt 810,9 tỷ đồng, tăng 30% so với năm 2007 với lượng khách quốc tế tăng vọt 40%. Cùng năm, tỉnh Quảng Nam đón 2,3 triệu lượt khách, đạt doanh thu 769 tỷ đồng và tăng trưởng 28,4%. Trong khi đó, du lịch Huế chịu áp lực cạnh tranh gay gắt và mức chi tiêu bình quân của du khách chưa cao.

Thứ ba, sản phẩm du lịch còn thiếu sự đa dạng, dịch vụ kinh tế đêm và du lịch cộng đồng chưa phát triển xứng tầm. Mặc dù địa phương sở hữu hơn 1.000 ngôi nhà vườn truyền thống có tiềm năng phát triển loại hình homestay từ năm 2002, việc khai thác thương mại thực tế vẫn gặp nhiều vướng mắc về cơ chế quản lý và nguồn vốn hỗ trợ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những hạn chế trên xuất phát từ cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan. Về tự nhiên, thời tiết khắc nghiệt với lượng mưa trung bình 2.740 mm tập trung từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm gây ra tính mùa vụ sâu sắc, khiến công suất phòng sụt giảm mạnh vào mùa mưa bão. Về chủ quan, tính cách người địa phương vốn thâm trầm, cẩn trọng và ngại đổi mới làm chậm quá trình thích ứng với tác phong công nghiệp. Các sản phẩm quà tặng lưu niệm đặc trưng còn đơn điệu, một số mặt hàng thậm chí phải nhập từ nơi khác về tiêu thụ.

Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, ngành du lịch Thái Lan đầu tư khoảng 0,5 triệu USD hàng năm cho mỗi văn phòng đại diện du lịch ở nước ngoài và Malaysia chi ngân sách tiếp thị trên 40 triệu USD mỗi năm để duy trì mức đón 15,7 triệu lượt khách quốc tế. Ngược lại, công tác xúc tiến quảng bá của Thừa Thiên Huế còn manh mún, thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa các ban ngành.

Dữ liệu thống kê về lượng khách và doanh thu giai đoạn 1996–2008 có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ kết hợp cột và đường thể hiện tốc độ tăng trưởng, cùng bảng ma trận so sánh các chỉ số lưu trú giữa Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và Quảng Nam để minh chứng rõ nét khoảng cách cạnh tranh vùng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu quy hoạch không gian du lịch và đa dạng hóa sản phẩm nghỉ dưỡng biển: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế triển khai phân vùng phát triển trọng điểm vịnh Lăng Cô, biển Thuận An và Cảnh Dương. Mục tiêu đặt ra là thu hút 3 đến 5 dự án khu nghỉ dưỡng đạt chuẩn quốc tế từ 4 đến 5 sao, nâng công suất sử dụng buồng phòng bình quân toàn tỉnh lên mức 65% đến 70% trong giai đoạn 2010–2015.

Thứ hai, đẩy mạnh chiến lược tiếp thị, xúc tiến thương hiệu và số hóa thông tin điểm đến: Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh chủ trì liên kết với các hãng hàng không và cơ quan ngoại giao mở các quầy thông tin chuẩn hóa tại các sân bay quốc tế. Chỉ tiêu cụ thể là gia tăng lượng khách quốc tế từ 8% đến 10% mỗi năm trong lộ trình từ 2009 đến 2015, đẩy mạnh quảng bá hình ảnh di sản qua các phương tiện truyền thông hiện đại.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao năng lực nghiệp vụ cho đội ngũ nhân lực ngành du lịch: Trường Cao đẳng Du lịch Huế và Đại học Huế phối hợp cùng các hiệp hội doanh nghiệp tổ chức đào tạo lại kỹ năng nghề và ngoại ngữ. Mục tiêu đến năm 2013 đạt 100% cán bộ quản lý và tối thiểu 80% nhân viên phục vụ trực tiếp tại các khách sạn được cấp chứng chỉ nghề tiêu chuẩn quốc gia.

Thứ tư, thể chế hóa chính sách phát triển du lịch cộng đồng và nhân rộng mô hình homestay nhà vườn: Ủy ban nhân dân thành phố Huế ban hành khung chính sách ưu đãi thuế và hỗ trợ vốn vay cho các hộ gia đình. Phấn đấu đến năm 2015 đưa vào khai thác ổn định ít nhất 200 nhà vườn truyền thống đạt chuẩn, giải quyết việc làm tại chỗ cho hơn 1.500 lao động địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách du lịch: Lãnh đạo các sở ban ngành nắm bắt được bức tranh tổng thể về 280 cơ sở lưu trú và điểm nghẽn liên kết ngành. Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị để xây dựng Đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế tầm nhìn 2020.

Thứ hai, ban giám đốc các doanh nghiệp lữ hành, khách sạn và khu nghỉ dưỡng: Các nhà quản trị tiếp cận hệ thống dữ liệu chi tiết về năng lực phục vụ của 5.172 phòng nghỉ trên địa bàn. Nghiên cứu hỗ trợ xây dựng chiến lược giá linh hoạt nhằm giảm thiểu thiệt hại mùa mưa và phát triển tour liên kết miền Trung.

Thứ ba, giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh: Người làm công tác học thuật có thể sử dụng khung lý thuyết liên ngành và phương pháp chọn mẫu phỏng vấn sâu 35 chuyên gia làm mẫu nghiên cứu tình huống thực tiễn phục vụ giảng dạy và thực hiện các công trình khoa học tiếp theo.

Thứ tư, cộng đồng cư dân và chủ sở hữu nhà vườn truyền thống xứ Huế: Người dân địa phương hiểu rõ quy trình tham gia chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch homestay, qua đó chủ động nâng cấp cơ sở vật chất, gia tăng nguồn thu nhập hộ gia đình từ 30% đến 50% một cách bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến du lịch Thừa Thiên Huế chưa bứt phá mạnh trong giai đoạn 2008–2009 là gì? Luận văn chỉ ra 3 nguyên nhân cốt lõi: thời tiết mưa bão kéo dài với lượng mưa 2.740 mm/năm gây tính mùa vụ cao; sản phẩm du lịch chủ yếu dựa vào di tích triều Nguyễn thiếu dịch vụ giải trí về đêm; và tâm lý kinh doanh ngại đổi mới của địa phương khiến doanh thu bị Đà Nẵng vượt qua với mức 810,9 tỷ đồng năm 2008.

Bài học từ Thái Lan và Malaysia có thể áp dụng cho du lịch Huế như thế nào? Thái Lan cấp ngân sách khoảng 0,5 triệu USD/năm cho mỗi văn phòng xúc tiến quốc tế, còn Malaysia chi hơn 40 triệu USD/năm để đón 15,7 triệu khách. Huế cần học tập tư duy đầu tư trọng điểm cho quảng bá thương hiệu, đồng thời chủ động tạo ra các sản phẩm nhân tạo và tổ chức lễ hội định kỳ để thu hút khách chi tiêu.

Làm thế nào để ngành du lịch Huế khắc phục tính mùa vụ do thời tiết mưa nhiều? Địa phương cần chủ động chuyển dịch cơ cấu sang sản phẩm du lịch hội nghị kết hợp nghỉ dưỡng, phát triển dịch vụ suối khoáng nóng Thanh Tân và tổ chức các tour trải nghiệm ẩm thực cung đình trong không gian kín, duy trì công suất phòng khách sạn đạt trên 50% trong các tháng mưa từ tháng 9 đến tháng 12.

Tiềm năng phát triển mô hình homestay nhà vườn tại Huế được đánh giá ra sao? Huế sở hữu hơn 1.000 ngôi nhà vườn đủ điều kiện phục vụ du khách trải nghiệm đời sống văn hóa bản địa. Việc hoàn thiện cơ chế quản lý và hỗ trợ nguồn vốn từ chính quyền sẽ giúp chuyển hóa tiềm năng này thành sản phẩm du lịch xanh độc đáo, tạo sinh kế bền vững cho hơn 1.500 lao động nông thôn trước năm 2015.

Hạ tầng lưu trú của Thừa Thiên Huế có ưu thế gì trong cuộc cạnh tranh tại miền Trung? Đến cuối năm 2008, toàn tỉnh có 280 cơ sở lưu trú với 5.172 phòng, trong đó 71,5% số phòng đạt chuẩn xếp hạng. Quy mô buồng phòng này vượt trội so với mức 3.500 phòng đạt chuẩn của Quảng Nam cùng thời điểm, tạo nền tảng vững chắc để thu hút các đoàn khách quốc tế quy mô lớn nếu được liên kết tour bài bản.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kinh tế du lịch và cơ chế tương tác 4 bên giữa du khách, doanh nghiệp, chính quyền và cộng đồng bản địa.
  • Phân tích sâu sắc bức tranh thực trạng du lịch Thừa Thiên Huế qua chuỗi số liệu 1991–2008, chỉ rõ quy mô 280 cơ sở lưu trú với 5.172 phòng.
  • Đánh giá thực nghiệm vị thế cạnh tranh của Huế trong tương quan với mức doanh thu 810,9 tỷ đồng của Đà Nẵng và 769 tỷ đồng của Quảng Nam năm 2008.
  • Hoạch định 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ về quy hoạch hạ tầng, xúc tiến thị trường, chuẩn hóa nhân lực và phát triển du lịch cộng đồng nhà vườn đến năm 2015.
  • Đóng góp hệ thống kiến nghị chính sách xác đáng gửi đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp một phương pháp tiếp cận khoa học, gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn di sản Cố đô với bài toán kinh doanh du lịch hiện đại trong bối cảnh phục hồi kinh tế.

Lộ trình triển khai giải pháp được phân kỳ thành hai bước: giai đoạn 2010–2012 tập trung hoàn thiện quy hoạch hạ tầng và chuẩn hóa dịch vụ; giai đoạn 2013–2015 đẩy mạnh tiếp thị quốc tế và nhân rộng các mô hình du lịch sinh thái cộng đồng.

Các nhà quản lý, doanh nghiệp lữ hành và nhà nghiên cứu quan tâm hãy khai thác ngay hệ thống dữ liệu và khung giải pháp chi tiết của luận văn để vận dụng hiệu quả vào thực tiễn phát triển ngành kinh tế du lịch địa phương.