Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích giải pháp phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015, góp phần nâng cao giá trị du lịch địa phương.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2009

94
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích nghiên cứu

1.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.3. Phương pháp nghiên cứu

1.4. Nguồn số liệu

1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

1.6. Kết cấu luận văn

2. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH

2.1. Một số khái niệm liên quan đến du lịch

2.1.1. Khái niệm về du lịch

2.1.2. Khái niệm về khách du lịch

2.1.3. Sản phẩm du lịch và những đặc tính của sản phẩm du lịch

2.1.4. Tài nguyên du lịch

2.2. Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường

2.2.1. Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế

2.2.2. Vai trò của ngành du lịch đối với xã hội

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành du lịch

2.3.1. Yếu tố bên ngoài

2.3.2. Yếu tố bên trong

2.4. Kinh nghiệm phát triển du lịch ở các nước và tại Việt Nam

2.4.1. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung và Huế nói riêng

3. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ TRONG THỜI GIAN QUA

3.1. Giới thiệu tổng quan ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế

3.1.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.2. Đặc điểm văn hóa, xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế

3.1.3. Tài nguyên du lịch

3.1.4. Làng nghề và các sản phẩm thủ công truyền thống

3.1.5. Các loại hình du lịch chủ yếu của Thừa Thiên Huế

3.2. Thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian qua

3.2.1. Phân tích tác động của các yếu tố bên ngoài

3.2.1.1. Môi trường kinh tế và chính trị thế giới và trong khu vực
3.2.1.2. Tình hình kinh tế chính trị của Việt Nam
3.2.1.3. Tình hình phát triển du lịch trên thế giới và khu vực
3.2.1.4. Tình hình phát triển du lịch của Việt Nam
3.2.1.5. Bản sắc văn hóa người Huế
3.2.1.6. Áp lực cạnh tranh
3.2.1.7. Dân cư địa phương

3.2.2. Phân tích tác động của các yếu tố bên trong

3.2.2.1. Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng kỹ thuật của ngành
3.2.2.2. Nguồn nhân lực
3.2.2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch
3.2.2.4. Hoạt động Marketing du lịch
3.2.2.5. Quy hoạch, đầu tư và nghiên cứu khoa học ngành du lịch
3.2.2.6. Công tác quản lý nhà nước về du lịch

3.2.3. Nhận xét thực trạng phát triển du lịch của tỉnh trong thời gian qua

3.2.3.1. Những cơ hội và thách thức của du lịch Huế
3.2.3.2. Những kết quả đạt được
3.2.3.3. Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân

3.3. Kết luận chương 2

4. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ĐẾN 2015

4.1. Quan điểm và Mục tiêu phát triển du lịch Thừa Thiên Huế đến năm 2015

4.1.1. Quan điểm phát triển du lịch Thừa Thiên Huế

4.1.2. Chỉ tiêu phát triển du lịch Huế

4.2. Một số giải pháp phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế

4.2.1. Giải pháp về quy hoạch

4.2.2. Chiến lược quảng bá – xúc tiến

4.2.3. Đào tạo nguồn nhân lực

4.2.4. Giải pháp về vốn

4.2.5. Phối hợp giữa các ngành

4.2.6. Nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch

4.2.7. Đẩy mạnh mô hình phát triển du lịch cộng đồng, khuyến khích người dân tham gia phát triển du lịch

4.3. Kiến nghị

4.3.1. Kiến nghị đối với Bộ Văn hóa thể thao du lịch

4.3.2. Kiến nghị đối với Sở du lịch và Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

4.4. Kết luận chương III

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015

Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế có tiềm năng lớn với nhiều tài nguyên phong phú. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với di sản văn hóa mà còn có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần có những giải pháp cụ thể và hiệu quả.

1.1. Tài nguyên du lịch và giá trị văn hóa của Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế sở hữu nhiều di tích lịch sử, văn hóa và cảnh quan thiên nhiên độc đáo. Các điểm đến như Cố đô Huế, các lăng tẩm và chùa chiền là những tài nguyên quý giá cho ngành du lịch.

1.2. Thực trạng phát triển du lịch tại Thừa Thiên Huế

Trong những năm qua, du lịch Thừa Thiên Huế đã có những bước phát triển đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để ngành du lịch phát triển mạnh mẽ hơn.

II. Những thách thức trong phát triển du lịch Thừa Thiên Huế

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng du lịch Thừa Thiên Huế vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và sự cạnh tranh từ các địa phương khác đang ảnh hưởng đến sự phát triển.

2.1. Cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch chưa đáp ứng nhu cầu

Cơ sở hạ tầng giao thông và dịch vụ du lịch tại Thừa Thiên Huế còn nhiều hạn chế. Điều này làm giảm sức hấp dẫn của điểm đến đối với du khách.

2.2. Sự cạnh tranh từ các điểm du lịch khác

Các địa phương khác như Đà Nẵng, Nha Trang đang thu hút du khách với nhiều sản phẩm du lịch đa dạng và hấp dẫn hơn. Thừa Thiên Huế cần có chiến lược để nâng cao sức cạnh tranh.

III. Giải pháp quy hoạch phát triển du lịch Thừa Thiên Huế

Để phát triển du lịch bền vững, việc quy hoạch hợp lý là rất quan trọng. Cần có những chiến lược cụ thể để khai thác tối đa tiềm năng du lịch của tỉnh.

3.1. Quy hoạch không gian du lịch hợp lý

Cần xây dựng quy hoạch không gian du lịch rõ ràng, phân bổ các khu vực du lịch một cách hợp lý để thu hút du khách.

3.2. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng và dịch vụ

Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông, khách sạn và các dịch vụ hỗ trợ du lịch là cần thiết để cải thiện trải nghiệm của du khách.

IV. Chiến lược quảng bá và xúc tiến du lịch Thừa Thiên Huế

Quảng bá du lịch là một phần quan trọng trong việc thu hút du khách. Cần có những chiến lược quảng bá hiệu quả để nâng cao nhận thức về du lịch Thừa Thiên Huế.

4.1. Sử dụng công nghệ thông tin trong quảng bá

Áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông để quảng bá hình ảnh du lịch Thừa Thiên Huế đến với du khách trong và ngoài nước.

4.2. Tổ chức các sự kiện văn hóa thể thao

Tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao sẽ thu hút sự chú ý của du khách và tạo cơ hội để quảng bá hình ảnh du lịch của tỉnh.

V. Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch Thừa Thiên Huế

Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định đến sự thành công của ngành du lịch. Cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu để nâng cao kỹ năng cho nhân viên trong ngành.

5.1. Đào tạo kỹ năng mềm cho nhân viên

Cần chú trọng đào tạo kỹ năng giao tiếp, phục vụ khách hàng cho nhân viên trong ngành du lịch để nâng cao chất lượng dịch vụ.

5.2. Hợp tác với các trường đại học và tổ chức đào tạo

Thiết lập mối quan hệ hợp tác với các trường đại học và tổ chức đào tạo để phát triển chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế của ngành.

VI. Kết luận và triển vọng phát triển du lịch Thừa Thiên Huế

Du lịch Thừa Thiên Huế có nhiều tiềm năng để phát triển. Với những giải pháp hợp lý, ngành du lịch có thể phát triển bền vững và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

6.1. Tương lai của du lịch Thừa Thiên Huế

Với những nỗ lực trong việc cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ, du lịch Thừa Thiên Huế có thể trở thành điểm đến hấp dẫn hơn trong tương lai.

6.2. Định hướng phát triển bền vững

Cần có những chính sách phát triển bền vững để bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ cho du khách.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh giải pháp phát triển du lịch tỉnh thừa thiên huế đến 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1 Một số khái niệm liên quan đến du lịch 1.1 Khái niệm về du lịch - Khái niệm “du lịch“ có ý nghĩa đầu tiên là sự khởi hành và lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ. Tuy nhiên, du lịch là một hiện tượng kinh tế, xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội dung của nó ngày càng mở rộng và ngày càng phong phú. Một số tiếp cận khác nhau đã có những khái niệm khác nhau và ngày càng có nhiều tác giả đưa ra quan điểm của mình về du lịch: Du lịch là “hoạt động của con người đi đến và ở những nơi nằm ngoài môi trường sống thường ngày của mình để nghỉ ngơi, công tác và các lý do khác” (WTO, 2002).

Luận thuyết về du lịch của John Urry (2002): “Sự ngắm nhìn của du khách” lần đầu được xuất bản năm 1990. Ông ta phát biểu rằng “Sự ngắm nhìn của du khách hướng trực tiếp đến nét nổi bật của phong cảnh mà cuộc sống thường ngày của họ không có được. Các vẻ đẹp này được “nhìn ngắm bởi vì chúng khác xa với trải nghiệm thường ngày”. Trong đại hội lần thứ 5 Hiệp hội quốc tế những nhà nghiên cứu khoa học về du lịch đã chấp nhận định nghĩa của Tiến sỹ Hunziker và Giáo sư, tiến sỹ Kraft như sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”.

Với một cách tiếp cận mang tính phát triển du lịch bền vững thì “ Du lịch là quan hệ tương hỗ do sự tương tác của bốn nhóm: Du khách, cơ quan cung ứng du lịch, chính quyền và dân cư tại nơi đến du lịch tạo nên”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Theo Luật du lịch Việt Nam, thì “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoản thời gian nhất định”. Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, vừa có đặc điểm của ngành văn hóa-xã hội.2 Khái niệm về khách du lịch Các tổ chức Quốc tế như tổ chức liên hiệp các quốc gia – League of Nations, của Tổ chức du lịch thế giới – WTO, của Tiểu ban các vấn đề kinh tế- xã hội trực thuộc Liên hiệp quốc và của Hội đồng thống kê liên hiệp quốc….

có nhiều định nghĩa khác nhau về Khách du lịch nói chung, khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa nói riêng. Xong xét một cách tổng quát thì đều có một số điểm chung nổi bật như sau: - Khách du lịch phải là người khởi hành rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình. - Khách du lịch có thể khởi hành với mọi mục đích khác nhau, loại trừ mục đích lao động để kiếm tiền ở nơi đến. - Thời gian lưu lại nơi đến ít nhất là 24 giờ, nhưng không được quá một năm.

Định nghĩa khách du lịch theo Luật du lịch của Việt Nam: - Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế. Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch 1.3 Sản phẩm du lịch và những đặc tính của sản phẩm du lịch a.

Khái niệm: Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó. - Các loại sản phẩm du lịch: sản phẩm du lịch chính, sản phẩm du lịch hình thức và sản phẩm du lịch mở rộng… Như vậy sản phẩm du lịch là một tổng thể các dịch vụ tạo thành, các dịch vụ này đứng riêng không thể gọi là sản phẩm du lịch, khi chúng kết hợp lại vơi nhau tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh, làm thỏa mãn nhu cầu của du khách. Những nét đặc trưng của sản phẩm du lịch - Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể. Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ, hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ.

Vì vậy, việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn vì thường mang tính chủ quan và phần lớn không phụ thuộc vào người kinh doanh mà phụ thuộc vào khách du lịch. Chất lượng sản phẩm du lịch thường được xác định dựa vào sự chênh lệch giữa mức độ kỳ vọng và mức độ cảm nhận về chất lượng của khách du lịch. - Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn với tài nguyên du lịch, do vậy sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được. Trên thực tế, không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chính đặc điểm này là một trong những nguyên nhân gây ra khó khăn cho các nhà kinh doanh du lịch trong việc tiêu thụ sản phẩm. - Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng sản phẩm trùng nhau về không gian và thời gian. Chúng không thể cất đi, tồn kho như những hàng hóa khác. Vì vậy, để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng sản phẩm du lịch luôn là bài toán khó cho các Doanh nghiệp kinh doanh du lịch.

- Việc tiêu dùng sản phẩm diễn ra không đều đặn mà mang tính mùa vụ. Khắc phục tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch luôn là vấn đề bức xúc ngay cả trong thực tiễn và lý luận.4 Tài nguyên du lịch. Tài nguyên du lịch là cơ sở để phát triển ngành du lịch. Đó là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch ( Luật du lịch).

Hiểu sâu về tài nguyên du lịch là một tất yếu trong quản lý nhà nước, nắm được tài nguyên du lịch của mình là gì, nhà cung cấp có thể đưa ra chiến lược dài hạn để tìm được khách hàng tiềm năng.2 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường.1 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế a. Phát triển du lịch quốc tế : - Tác động tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Du lịch là một ngành đã giúp nhiều quốc gia thu được hàng tỷ USD mỗi năm, bởi vì đây là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả nhất. Thật vậy, thu nhập từ du lịch quốc tế mỗi năm đều tăng, năm 2003, thu nhập từ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 du lịch quốc tế đạt 523 tỉ USD, tăng 6,5% so với năm 2002.

WTO vẫn tin rằng du lịch quốc tế sẽ tiếp tục tăng trưởng và đặt mục tiêu khách du lịch sẽ đạt khoảng 1 tỉ người vào năm 2010 và 1,6 tỉ người vào năm 2020. Sở dĩ như vậy là vì: (1). Du lịch là ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, … theo giá bán lẻ cao hơn.(2) Du lịch là ngành “xuất khẩu vô hình” sản phẩm du lịch, bao gồm như cảnh quan thiên nhiên, giá trị di tích lịch sử-văn hóa, tính độc đáo trong truyền thống phong tục tập quán…Sản phẩm này không bị mất đi mà giá trị ngày càng được tăng thêm khi chất lượng phục vụ du lịch cao, bởi lẽ cái mà chúng ta bán cho khách không phải là bản thân tài nguyên du lịch mà chỉ là giá trị các khả năng thõa mãn các nhu cầu đặc trưng của khách du lịch được chứa đựng trong tài nguyên du lịch. - Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Vì du lịch là ngành bỏ vốn đầu tư thấp hơn so với các ngành công nghiệp nặng khác mà khả năng thu hồi vốn nhanh, kỹ thuật không phức tạp.

Trong khi quy luật phổ biến trên thế giới hiện nay của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản phẩm xã hội. Do vậy, du lịch là một trong những ngành hấp dẫn các nhà kinh doanh trên con đường đi tìm hiệu quả nguồn vốn đầu tư của mình, đặc biệt là kinh doanh các dịch vụ bổ sung. - Du lịch góp phần cũng cố mối quan hệ kinh tế quốc tế, phát triển đường lối giao thông quốc tế. Nó như là một đầu mối “xuất – nhập khẩu” ngoại tế, góp phần phát triển quan hệ ngoại hối quốc tế.

Phát triển du lịch nội địa: - Du lịch góp phần làm tăng sản phẩm quốc nội thông qua việc tham gia vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân như sản xuất đồ lưu niệm, chế biến thực phấm… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng, vì thường các vùng phát triển mạnh về du lịch thì kém sản xuất ra của cải vật chất. - Bên cạnh việc tăng sức khỏe cho người dân, thì du lịch nội địa giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật hợp lý hơn, tận dụng được toàn bộ giá trị mà nó mang lại, nhất là và những mùa không phải là thời vụ của ngành du lịch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ