Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh phát triển du lịch hiện đại, nhu cầu của du khách đã có sự dịch chuyển rõ nét từ việc tham quan ngắm cảnh thuần túy sang trải nghiệm đời sống văn hóa bản địa. Xu hướng hòa nhập vào cuộc sống của người dân địa phương để trực tiếp tìm hiểu phong tục, tập quán, sinh hoạt thường nhật ngày càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, tại nhiều điểm đến, mô hình kinh doanh du lịch truyền thống chủ yếu mang lại lợi nhuận cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ lữ hành và chính quyền, trong khi cộng đồng dân cư bản địa – chủ thể gìn giữ các giá trị văn hóa nhân văn và trực tiếp bảo vệ cảnh quan tự nhiên – lại chỉ nhận được phần lợi ích rất hạn chế. Sự phát triển quá nóng nhằm mục đích kinh tế đơn thuần cũng đặt ra nguy cơ xâm hại môi trường sinh thái và làm xói mòn bản sắc văn hóa truyền thống.
Loại hình du lịch homestay (du lịch ở nhà dân theo phương thức cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt) ra đời nhằm khắc phục những bất cập trên thông qua việc chia sẻ lợi ích kinh tế trực tiếp cho người dân, nâng cao ý thức bảo tồn tài nguyên sinh thái của cộng đồng, hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững. Tại Việt Nam, homestay đã bước đầu phát triển ở một số địa phương như Mai Châu (Hòa Bình), Ba Bể (Bắc Kạn), Sa Pa (Lào Cai), Hội An (Quảng Nam) và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình) là vùng đất ngập nước nội địa lớn nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ, sở hữu hệ sinh thái karst ngập nước đặc thù cùng hệ thống di tích lịch sử - văn hóa dày đặc. Mặc dù có tiềm năng phong phú, việc phát triển loại hình du lịch homestay tại Vân Long ở thời điểm nghiên cứu vẫn còn mang tính sơ khai, chưa tương xứng với tiềm năng; số lượng hộ dân tham gia và lượng du khách lưu trú thực tế còn rất khiêm tốn. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Vũ Thị Thùy Linh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Văn hóa Du lịch với đề tài: "Giải pháp phát triển loại hình du lịch homestay theo hướng bền vững tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long - Ninh Bình".
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá thực trạng phát triển loại hình du lịch homestay tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển loại hình du lịch này theo hướng bền vững.
Để đạt được mục đích trên, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về loại hình du lịch homestay và phát triển du lịch bền vững; tìm hiểu cơ sở thực tiễn thông qua kinh nghiệm phát triển du lịch homestay ở trong và ngoài nước.
- Nghiên cứu tổng quan các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và các điều kiện tiền đề cho việc phát triển du lịch homestay tại địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá thực trạng phát triển loại hình du lịch homestay tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long - Ninh Bình.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch homestay theo hướng bền vững tại Vân Long - Ninh Bình.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động và các điều kiện phát triển của loại hình du lịch homestay tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long.
- Phạm vi không gian: Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, trải rộng trên địa bàn 7 xã thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình (gồm các xã: Gia Hưng, Gia Vân, Liên Sơn, Gia Hòa, Gia Lập, Gia Tân và Gia Thanh).
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thu thập dữ liệu và triển khai nghiên cứu thực tế từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, khóa luận tiếp cận thuật ngữ "homestay" từ lịch sử hình thành trong lĩnh vực giáo dục (chỉ hình thức học sinh, sinh viên ở trọ tại nhà người bản xứ để học tập văn hóa, ngôn ngữ) cho đến khi chuyển hóa thành một loại hình du lịch từ thập niên 1970 gắn với du lịch làng bản. Tác giả tổng hợp các định nghĩa học thuật và thực tiễn: định nghĩa của ngành du lịch Thái Lan (loại hình du lịch cộng đồng trải nghiệm phong cách sống của hộ gia đình địa phương), định nghĩa của ông Haji Sahariman Hamdan (Chủ tịch Hiệp hội Homestay Malaysia - nhấn mạnh việc du khách sinh hoạt như thành viên gia đình), và định nghĩa của tác giả Vũ Lê Minh (VietNamnet.vn - coi homestay là hình thức du lịch bền vững giúp rút ngắn khoảng cách giữa khách du lịch với cư dân bản địa). Về phương thức tổ chức, tác giả nhấn mạnh mô hình đặc trưng "3 cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt) và căn cứ kỹ thuật lưu trú theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7800:2009 về nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê.
Về khung lý thuyết phát triển du lịch bền vững, tác giả trích dẫn định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) tại Hội nghị Rio de Janeiro năm 1992, Hội đồng Du lịch và Lữ hành Quốc tế (WTTC, 1996) và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 1996). Bốn nguyên tắc cơ bản của phát triển du lịch bền vững được vận dụng xuyên suốt đề tài gồm:
- Sử dụng tài nguyên tự nhiên và nhân văn một cách bền vững, kiểm soát sức chứa của điểm đến.
- Bảo tồn tính đa dạng sinh thái, sinh học và đa dạng văn hóa bản địa.
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường đối với du khách.
- Đảm bảo phúc lợi xã hội, chia sẻ công bằng lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp ba phương pháp nghiên cứu học thuật truyền thống:
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu, số liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các văn bản quản lý nhà nước, số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình (số liệu di tích tính đến 31/12/2012), Sở Công thương tỉnh Ninh Bình (các quyết định công nhận làng nghề cấp tỉnh năm 2007, 2011), Tổng cục Thống kê, các tài liệu nghiên cứu về đa dạng sinh học của Ban quản lý khu bảo tồn, giáo trình chuyên ngành và báo chí khoa học.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành quan sát trực tiếp tại 7 xã vùng đệm và vùng lõi khu bảo tồn Vân Long; khảo sát hiện trạng tài nguyên địa hình, hang động, sông ngòi, đa dạng sinh học; khảo sát hệ thống giao thông, cơ sở vật chất kỹ thuật của các hộ dân, bến thuyền du lịch và các di tích văn hóa - lịch sử trên địa bàn.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Chọn lọc, phân loại, đối chiếu các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp để đánh giá tiềm năng, thuận lợi, khó khăn và thực trạng khai thác du lịch homestay, từ đó khái quát hóa thành cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất giải pháp.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm thông tin lưu trữ tại Trạm du lịch Vân Long, các hộ dân tham gia thử nghiệm đón khách, số liệu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện Gia Viễn và quy hoạch phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về loại hình du lịch homestay và phát triển du lịch bền vững
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ khung lý luận về homestay và du lịch bền vững, phân tích các điều kiện tiên quyết để hình thành loại hình du lịch này gồm 4 nhóm yếu tố: tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn), cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật (giao thông, điện nước, vệ sinh an toàn theo chuẩn TCVN 7800:2009), nguồn nhân lực (cộng đồng bản địa giữ vị trí trung tâm) và cơ chế chính sách quản lý của nhà nước.
Bên cạnh lý thuyết, tác giả tổng hợp kinh nghiệm phát triển du lịch homestay tại một số quốc gia châu Á và các địa phương ở Việt Nam để rút ra bài học thực tiễn:
| Quốc gia / Địa phương |
Quy mô và đặc điểm mô hình |
Hoạt động trải nghiệm chính |
Kinh nghiệm quản lý / Hỗ trợ |
| Malaysia (Làng Temerloh, bang Pahang) |
Bắt đầu từ 1995; tính đến 2009 cả nước có 227 xã, 3.264 nhà làm homestay, 4.463 phòng; đón hơn 10.000 khách Nhật Bản/năm. |
Sinh hoạt thôn quê, tham quan nhà trệt truyền thống có sân vườn trồng hoa cảnh. |
Bộ Du lịch Malaysia tổ chức đào tạo, cấp bằng hành nghề cho gần 4.000 hộ dân; hạ tầng giao thông trải nhựa đến tận nhà dân. |
| Ấn Độ (Bang Kerala) |
Tiêu biểu tại Olavipe Homestay (trang trại gia đình 13 đời) và đồn điền Vanilla County. |
Thăm đồn điền cao su, vani, nghệ; đi thuyền trên sông lạch; học nấu cà ri dứa, dhal, chế biến tôm cá. |
Khai thác thế mạnh trang trại gia đình lâu đời kết hợp du lịch sinh thái và ẩm thực truyền thống. |
| Thái Lan (Làng Koh Pet, vùng Isaan) |
Mô hình làng quê nông nghiệp vùng Đông Bắc. |
Đi chợ truyền thống, nấu ăn ngoài trời, ăn trưa trên cánh đồng lúa với cơm nếp, thịt lợn, ớt. |
Tận dụng đời sống nông nghiệp mộc mạc làm sản phẩm du lịch cộng đồng. |
| Bản Tả Van Giáy (Sa Pa, Lào Cai) |
Khoảng 40/140 hộ dân làm homestay; nhà gỗ truyền thống bổ sung công trình phụ sạch sẽ. |
Nghỉ nhà gỗ, đốt lửa trại ban đêm, múa quạt, nhảy sạp, thổi kèn, trưng bày trang phục thổ cẩm. |
Thành lập đội văn nghệ bản; các hộ liên kết chặt chẽ với công ty lữ hành tại thị trấn Sa Pa và Hà Nội. |
| Phố cổ Hội An (Quảng Nam) |
Các hộ dân trục đường phía trên Chùa Cầu; tối đa 2 phòng/nhà, giá 10 - 15 USD/đêm. |
Thức dậy sớm pha trà, ăn điểm tâm dân dã (mì Quảng, cao lầu, cháo gạo lức cá khô), nghe kể chuyện cổ. |
Khai thác sâu nếp sống gia đình đô thị cổ kết hợp bảo tồn di sản văn hóa thế giới. |
| Tiền Giang (Cái Bè, Chợ Gạo, Mỹ Tho) |
Bắt đầu từ 2006; có 12 hộ đón khách lưu trú, sức chứa tối thiểu 10 khách/nhà. |
Thăm vườn cây ăn trái, đi thuyền sông nước, đạp xe đường làng, trang bị kết nối wifi miễn phí. |
Hợp đồng vận chuyển với tàu du lịch lữ hành; nâng cấp đường làng bằng đá đỏ, bê tông. |
Chương 2: Thực trạng phát triển loại hình du lịch homestay tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long - Ninh Bình
Chương 2 tập trung phân tích thực địa toàn diện khu bảo tồn Vân Long về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên du lịch và thực trạng khai thác homestay.
Về điều kiện tự nhiên và địa lý, khu bảo tồn có diện tích trên 2.734 ha, nằm trên địa giới 7 xã của huyện Gia Viễn (Gia Hưng, Liên Sơn, Gia Hoà, Gia Lập, Gia Tân, Gia Thanh và Gia Vân), cách trung tâm huyện Gia Viễn 5 km và cách thành phố Ninh Bình gần 14 km. Tọa độ địa lý từ 20°21′30″ đến 20°24′00″ vĩ độ Bắc và 105°48′53″ đến 105°54′40″ kinh độ Đông. Địa hình đặc trưng bởi các khối núi đá vôi karst xen lẫn vùng trũng ngập nước sâu 2-3 m vào mùa mưa và 0,5-1 m vào mùa cạn. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 23,3°C - 23,4°C, độ ẩm 84-85%, mùa mưa tập trung từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 10 (chiếm 88-99% lượng mưa năm); thời gian thích hợp nhất cho du lịch homestay là từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 4 năm sau.
Về kinh tế - xã hội, nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo với diện tích trồng lúa nước chiếm 35,6% diện tích đất canh tác. Đời sống cư dân vùng đệm kết hợp chăn nuôi gia súc (bò, trâu được khai thác phục vụ kéo xe du lịch) và nhận giao khoán bảo vệ rừng tái sinh với mức kinh phí hỗ trợ 50.000 đồng/ha. Trên địa bàn vùng đệm có 207 cơ sở thương mại - dịch vụ, giải quyết việc làm cho 12% lao động địa phương.
Về giá trị tài nguyên tự nhiên, Vân Long được ví là "Hạ Long không có sóng", sở hữu gần 100 hang động karst, tiêu biểu có Hang Cá (hang xuyên thủy dài 250 m, cao 8 m, rộng 10 m), Hang Bóng, Hang Rùa, Hang Chanh và động Địch Lộng ("Nam thiên đệ tam động"). Mật độ phễu và hố sụt karst đạt 2-3 phễu/km² (như thung Cận, thung Lau, thung Quèn Cả). Hệ sinh thái đất ngập nước hoang dã gần 1.000 ha có 39 loài thực vật thủy sinh (sen, súng, hẹ nước, rau bợ, ấu...), 100 loài chim thuộc 39 họ và 14 bộ (cò bợ, cò trắng, sâm cầm, le le...), 39 loài thú thuộc 19 họ và 8 bộ. Đặc biệt, quần thể Voọc mông trắng tại đây có trên 100 cá thể (năm 2010), tăng mạnh so với khoảng 40 cá thể năm 2001. Năm 2010, Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam đã xác lập 2 kỷ lục cho Vân Long: "Nơi có số lượng cá thể Voọc mông trắng nhiều nhất" và "Nơi có bức tranh tự nhiên lớn nhất". Ngoài ra, vùng nước có sự hiện diện của cà cuống (loài chỉ thị môi trường nước sạch, ghi tên trong Sách đỏ Việt Nam) và cá chuối Vân Long.
Về tài nguyên nhân văn, đến ngày 31/12/2012, khu bảo tồn có 25 di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng (7 di tích cấp quốc gia và 18 di tích cấp tỉnh). Nổi bật có Động Hoa Lư (Thung Lau rộng 16 mẫu gắn với căn cứ tập trận cờ lau của Đinh Bộ Lĩnh), Thung Lá, Đền thờ công thần Lê Khả Lãng, Đền Đức ông Ngọ Lang, Chùa và động Địch Lộng. Văn hóa lễ hội gồm Lễ hội mùa xuân xã Gia Vân (mùng 8-13 tháng Giêng), Lễ hội đền Bến Nổi (13-15 tháng 10 âm lịch thờ Tứ vị Hồng Nương thời Hai Bà Trưng), Lễ hội truyền thống động Hoa Lư (10-13 tháng Giêng tại Gia Hưng). Ẩm thực bản địa phong phú với mắm tép Gia Viễn (chế biến thủ công từ tép riu), thịt dê núi Ninh Bình (xác lập kỷ lục Top 50 món ăn đặc sản nổi tiếng Việt Nam năm 2012), cá chuối nướng Vân Long và cơm cháy.
Về làng nghề truyền thống, trên địa bàn huyện Gia Viễn có 5 làng nghề được UBND tỉnh Ninh Bình công nhận đạt tiêu chuẩn cấp tỉnh, đóng góp sản phẩm thủ công cho du lịch:
| STT |
Tên làng nghề |
Địa chỉ hành chính |
Quyết định công nhận |
| 1 |
Làng nghề thêu ren Lãng Nội |
Xã Gia Lập |
Quyết định số 2562/QĐ-UBND ngày 05/11/2007 |
| 2 |
Làng nghề thêu ren Vũ Đại |
Xã Gia Xuân |
Quyết định số 2562/QĐ-UBND ngày 05/11/2007 |
| 3 |
Làng nghề đan cót Vân Thị |
Xã Gia Tân |
Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 02/01/2007 |
| 4 |
Làng nghề mây tre đan An Thái |
Xã Gia Trung |
Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 02/01/2007 |
| 5 |
Làng nghề chẻ tăm hương Văn Hà |
Xã Gia Phương |
Quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 22/7/2011 |
Về thực trạng tổ chức các tuyến du lịch, Vân Long đã thiết lập hệ thống 8 tuyến tham quan và 1 tuyến hành trình được du khách ưa chuộng nhất:
| Phân loại tuyến |
Ký hiệu tuyến |
Lộ trình chi tiết |
| Đường thủy |
Tuyến 1 |
Bến thuyền Vân Long - Hang Bóng - Kẽm Trăm - Bến thuyền Vân Long. |
|
Tuyến 2 |
Bến thuyền trung tâm - Đền Mẫu - Chùa Thanh Sơn Tự - Vườn Thánh - Khu du lịch sinh thái. |
|
Tuyến 3 |
Bến thuyền trung tâm - Bức tranh Mèo Cào - Hang Cá - Bến thuyền trung tâm. |
| Đường bộ |
Tuyến 4 |
Khu du lịch Vân Long - Đền Ba Non - Đền Bến Nổi - Nhà Bảo tàng động vật. |
|
Tuyến 5 |
Khu du lịch Vân Long - Đầm Cút - Động Hoa Lư - Đồi Mơ. |
|
Tuyến 6 |
Xuyên rừng: Dịch vụ Vân Long - Làng sinh thái Đồi Ngô - Làng Đồi Cọt - Quèn Cả - Đá Hàn. |
| Về nguồn |
Tuyến 7 |
Vân Long - Mộ Nguyễn Bặc (1,1 ha) - Đền vua Đinh (3 ha) - Đền Đức Thánh Nguyễn - Động và chùa Địch Lộng (100 ha) - Động Hoa Lư - Vân Long. |
| Làng quê |
Tuyến 8 |
Khu dịch vụ Vân Long - Thôn Phù Long - Thôn Chi Lễ - Thôn Mai Trung - Thôn Trung Hòa - Thôn Tập Ninh. |
| Tuyến ưa thích |
Tuyến đặc thù |
Kẽm Chăm - Hang Bóng - Núi Voọc (thời lượng khoảng 2 - 4 tiếng). |
Về thực trạng hoạt động homestay: Các hộ dân đã bước đầu phục vụ khách lưu trú, tổ chức các hoạt động trải nghiệm dân dã như đi xe trâu, xe bò, chèo thuyền nan, tát nước gầu sòng, cất vó, móc cua bờ ruộng, cấy lúa, giã gạo, đun bếp củi, uống nước vối và ngủ giường tre. Thị trường khách chủ lực tham gia trải nghiệm là du khách quốc tế đến từ Pháp, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Đánh giá tổng quát của chương 2:
- Tích cực - Thuận lợi: Tài nguyên tự nhiên và nhân văn đặc sắc, nguyên sơ; người dân thân thiện, bước đầu hình thành các dịch vụ bổ trợ tạo thêm thu nhập.
- Hạn chế - Khó khăn: Quy mô hoạt động nhỏ lẻ; số hộ dân đáp ứng tiêu chuẩn lưu trú homestay còn rất ít; cơ sở vật chất, vệ sinh môi trường chưa đồng bộ; người dân thiếu kỹ năng du lịch chuyên nghiệp và ngoại ngữ; liên kết với các hãng lữ hành chưa bền vững; sản phẩm làng nghề chưa gắn kết chặt chẽ vào chương trình tour.
Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch homestay theo hướng bền vững tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long - Ninh Bình
Chương 3 đề xuất định hướng phát triển dựa trên quy hoạch du lịch Ninh Bình đến năm 2020, tầm nhìn 2030, tập trung vào 7 nhóm giải pháp và hệ thống kiến nghị 5 bên liên quan:
- Xây dựng sản phẩm du lịch homestay đặc thù: Định hình sản phẩm homestay gắn liền với sinh thái ngập nước và văn hóa nông nghiệp đồng bằng Bắc Bộ; đưa các hoạt động cấy lúa, tát nước, bắt cua, đi xe trâu và ẩm thực mắm tép, cá chuối nướng thành các gói trải nghiệm đặc trưng có bản sắc riêng.
- Thu hút cộng đồng địa phương tham gia: Xây dựng quy chế minh bạch về phân chia lợi ích kinh tế; khuyến khích các hộ gia đình liên kết tổ chức mô hình hợp tác xã hoặc tổ dịch vụ du lịch cộng đồng để hỗ trợ nhau về phòng nghỉ và phục vụ ăn uống.
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ: Nâng cấp hệ thống đường liên thôn, liên xã; cải tạo nhà ở gia đình theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7800:2009, trang bị khu vệ sinh tự hoại sạch sẽ, thông gió, sử dụng các biện pháp truyền thống chống muỗi, bảo đảm nước sạch sinh hoạt và dịch vụ viễn thông.
- Phát triển nguồn nhân lực du lịch bản địa: Mở các lớp tập huấn nghiệp vụ du lịch, kỹ năng nấu nướng bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ cơ bản cho các chủ hộ; bồi dưỡng kiến thức văn hóa, lịch sử để người dân trở thành người thuyết minh bản địa.
- Đẩy mạnh công tác quảng bá, xúc tiến: Liên kết trực tiếp với các doanh nghiệp lữ hành lớn tại Hà Nội và Ninh Bình; quảng bá sản phẩm homestay Vân Long trên các phương tiện truyền thông, trang tin điện tử; hướng vào thị trường mục tiêu truyền thống như khách Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc và mở rộng thị trường nội địa.
- Hoàn thiện cơ chế chính sách và tổ chức quản lý: Chính quyền địa phương cần ban hành chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho người dân chuyển đổi từ nông nghiệp thuần túy sang làm du lịch homestay; quy định rõ ràng về đăng ký tạm trú, an ninh trật tự và quản lý giá dịch vụ.
- Khai thác kết hợp bảo tồn tài nguyên du lịch: Giám sát nghiêm ngặt hoạt động du lịch tại vùng lõi ngập nước để không làm ảnh hưởng đến sinh thái sống của loài Voọc mông trắng; kiểm soát chất thải sinh hoạt từ các hộ homestay; nghiêm cấm các hành vi khai thác, săn bắt chim nước và sinh vật thủy sinh hoang dã.
Hệ thống kiến nghị của tác giả:
- Đối với cơ quan trung ương: Hỗ trợ chính sách vốn, xúc tiến quốc gia cho du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn thiên nhiên.
- Đối với chính quyền và cơ quan quản lý địa phương: Lập quy hoạch phân khu chi tiết cho mô hình homestay tại 7 xã; đầu tư hạ tầng giao thông và xử lý rác thải.
- Đối với cộng đồng dân cư: Giữ gìn thái độ hiếu khách, văn minh, bảo tồn nếp sống truyền thống và giữ gìn vệ sinh môi trường gia đình.
- Đối với khách du lịch: Tôn trọng phong tục tập quán địa phương, có ý thức bảo vệ tài nguyên sinh thái và động vật hoang dã.
- Đối với các đơn vị khai thác kinh doanh du lịch: Phối hợp hài hòa lợi ích với người dân địa phương, xây dựng các tour có trách nhiệm và hỗ trợ đào tạo nghiệp vụ cho chủ hộ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa được hệ thống số liệu cụ thể về tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long:
- Diện tích khu bảo tồn đạt trên 2.734 ha trên địa bàn 7 xã; khí hậu trung bình 23,3°C - 23,4°C; vùng đất ngập nước hoang dã gần 1.000 ha.
- Đa dạng sinh học được ghi nhận gồm 39 loài thực vật thủy sinh, 100 loài chim, 39 loài thú; trong đó quần thể Voọc mông trắng đạt trên 100 cá thể (năm 2010), cùng 2 kỷ lục quốc gia do Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam công nhận.
- Hệ thống tài nguyên nhân văn thống kê được 25 di tích lịch sử - văn hóa xếp hạng (7 di tích cấp quốc gia, 18 di tích cấp tỉnh) và 5 làng nghề thủ công được UBND tỉnh Ninh Bình cấp bằng công nhận cấp tỉnh.
- Khóa luận hệ thống hóa được 8 tuyến du lịch chính (gồm 3 tuyến thủy, 3 tuyến bộ, 1 tuyến về nguồn, 1 tuyến làng quê) và 1 tuyến đặc thù Kẽm Chăm - Hang Bóng - Núi Voọc.
- Đề xuất đồng bộ hệ thống 7 giải pháp phát triển bền vững và 5 nhóm kiến nghị cụ thể cho từng chủ thể tham gia hoạt động du lịch homestay.
Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, đề tài là công trình nghiên cứu hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch homestay và du lịch bền vững áp dụng cho một vùng đất ngập nước đặc thù tại đồng bằng Bắc Bộ. Kết quả nghiên cứu cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho hoạt động đào tạo ngành Văn hóa Du lịch; đồng thời là cơ sở thực tế có giá trị gợi ý cho các nhà quản lý du lịch huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình và các doanh nghiệp lữ hành trong việc lập quy hoạch, đầu tư và định hướng phát triển sản phẩm du lịch homestay cộng đồng gắn liền với bảo tồn đa dạng sinh học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được thực hiện trong thời gian tương đối ngắn (từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015), do đó việc thu thập dữ liệu định lượng chuyên sâu về lượng khách homestay lưu trú qua đêm và doanh thu cụ thể của từng hộ gia đình chưa được tách bạch riêng rẽ với số liệu chung của toàn khu bảo tồn. Tác giả chủ yếu đánh giá thực trạng trên cơ sở quan sát thực địa và dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý.
Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát điều tra xã hội học với cỡ mẫu lớn hơn về mức độ sẵn sàng tham gia và năng lực tài chính của các hộ dân tại cả 7 xã vùng đệm; đồng thời thực hiện các nghiên cứu định lượng chuyên sâu về sức chứa môi trường (carrying capacity) của khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long khi số lượng hộ làm homestay và lượng khách du lịch lưu trú gia tăng trong giai đoạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và giảng viên ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Việt Nam học: Tham khảo khung lý thuyết về mô hình du lịch "3 cùng", tiêu chuẩn kỹ thuật nhà ở theo TCVN 7800:2009 và phương pháp phân tích tiềm năng du lịch tại khu bảo tồn thiên nhiên.
- Cán bộ quản lý du lịch địa phương và doanh nghiệp lữ hành: Tham khảo danh mục 25 di tích văn hóa, 5 làng nghề cấp tỉnh và bảng hành trình 8 tuyến du lịch tại Vân Long để xây dựng các sản phẩm tour trải nghiệm thực tế.
- Các nhà nghiên cứu về du lịch cộng đồng: Vận dụng bài học kinh nghiệm quốc tế (Malaysia, Ấn Độ, Thái Lan) và các địa phương trong nước (Sa Pa, Hội An, Tiền Giang) vào bài toán phát triển sinh kế cho cư dân vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước.
Câu hỏi thường gặp
1. Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long nằm trên địa bàn các xã nào và diện tích là bao nhiêu?
Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long có diện tích trên 2.734 ha, nằm trải rộng trên địa bàn 7 xã thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, bao gồm: Gia Hưng, Gia Vân, Liên Sơn, Gia Hòa, Gia Lập, Gia Tân và Gia Thanh (trong đó khu trung tâm nằm chủ yếu ở xã Gia Vân).
2. Năm 2010, Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam đã xác lập những kỷ lục nào cho Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long?
Vào năm 2010, Vân Long được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác nhận 02 kỷ lục quốc gia: "Nơi có số lượng cá thể Voọc mông trắng nhiều nhất" (với số lượng ghi nhận trên 100 cá thể) và "Nơi có bức tranh tự nhiên lớn nhất".
3. Du khách tham gia loại hình du lịch homestay tại Vân Long được trải nghiệm những hoạt động lao động, sinh hoạt đặc thù nào?
Du khách được trải nghiệm đời sống nông nghiệp cùng người dân địa phương thông qua các hoạt động: đi xe trâu, xe bò, chèo thuyền nan, đi cấy, làm đất trồng màu, bắt cua, tát nước bằng gầu sòng hoặc gầu dây, cất vó, đánh giậm, xay lúa, giã gạo, nấu canh cua, đun cơm bằng bếp củi, dùng quạt nan, ngủ giường tre và uống nước vối hoặc chè xanh.
4. Trên địa bàn huyện Gia Viễn và khu vực nghiên cứu có những làng nghề truyền thống nào được công nhận cấp tỉnh?
Huyện Gia Viễn có 5 làng nghề được UBND tỉnh Ninh Bình công nhận làng nghề cấp tỉnh gồm: Làng nghề thêu ren Lãng Nội (xã Gia Lập), Làng nghề thêu ren Vũ Đại (xã Gia Xuân), Làng nghề đan cót Vân Thị (xã Gia Tân), Làng nghề mây tre đan An Thái (xã Gia Trung) và Làng nghề chẻ tăm hương Văn Hà (xã Gia Phương).
5. Vì sao thịt dê núi Ninh Bình tại khu vực Vân Long được đánh giá là đặc sản có chất lượng khác biệt?
Thịt dê núi tại đây có cơ thịt săn chắc, ít mỡ và thơm ngậy do đặc điểm địa hình núi đá vôi ngập nước khiến dê phải leo trèo vận động nhiều. Đồng thời, nguồn thức ăn tự nhiên trên núi đá vôi có nhiều loại rau, cỏ và thảo dược quý như giò gai, giò vàng, bách bộ, xoan dù tạo nên hương vị đặc trưng (được xác lập trong Top 50 món ăn đặc sản nổi tiếng Việt Nam năm 2012).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Thị Thùy Linh đã phản ánh trung thực tiềm năng tự nhiên và văn hóa đặc sắc của Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long trong mối tương quan với loại hình du lịch homestay. Công trình đã làm rõ khoảng cách giữa tiềm năng tài nguyên phong phú với thực trạng phát triển du lịch cộng đồng còn sơ khai tại địa phương ở thời điểm năm 2015. Hệ thống 7 nhóm giải pháp và các kiến nghị cụ thể được đề xuất mang tính đồng bộ, khoa học, góp phần định hình hướng phát triển du lịch homestay gắn chặt với sinh kế của cư dân bản địa và bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước bền vững.