CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về hoạt động du lịch tại Thị xã Cửa Lò, cũng như các đề tài định hướng giải pháp nhằm PTDLBV: - “Định hướng phát triển du lịch biển theo hướng bền vững tại Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An” của trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội của Nguyễn Thị Anh Thanh. Đề tài đã nêu lên được thực trạng du lịch tại Cửa Lò và đề tài đã chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững. Ngoài ra còn một số đề tài luận văn đã nghiên cứu về DLBV như: - “Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch bền vững tại Khu du lịch Thiên Cầm”.
Trong đề tài này, tác giả đã làm rõ được thực trạng trong du lịch nghỉ biển ở Thiên Cầm, cũng như đánh giá được những tiềm năng phát triển du lịch nghỉ biển ở đây. Đồng thời đã đưa ra được một số giải pháp khắc phục tính thời vụ và giải pháp phát triển du lịch Thiên Cầm. - “Phát triển du lịch bền vững tại biển Lăng Cô”. Tuy nhiên, do hạn chế của tính thời vụ mà trong những năm qua, hoạt động kinh doanh du lịch biển Lăng Cô có sự ảnh hưởng.
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả đã nêu lên một số biện pháp nhằm PTDLBV tại đây, cũng như những ý kiến đề xuất với các ban, ngành liên quan. Đối với Thị xã Cửa Lò cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về nhiều khía cạnh du lịch như: “Các tour, tuyến du lịch ở Cửa Lò hấp dẫn với khách du lịch”, “Tìm hiểu hướng phát triển du lịch bốn mùa ở Cửa Lò”, “Các giải pháp hạn chế tính mùa vụ của hoạt động du lịch biển Cửa Lò”, “Định hướng phát triển du lịch biển theo hướng bền vững tại Thị xã Cửa Lò”. Các đề tài đã phần nào làm rõ được thực trạng PTDL tại biển Cửa Lò, đồng thời có đề ra một số giải pháp nhằm PTBV ở đây. Tuy nhiên, các đề tài này chỉ đề cập tới một khía cạnh trong du lịch, chưa nêu tổng quát và phản ánh thực trạng phát triển hoạt động du lịch tại đây.
10 Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững tại bãi biển Cửa Lò - Nghệ An Tại khoa Du lịch - trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, đã có một số đề tài của các anh chị đi trước nghiên cứu về biển Cửa Lò. Tuy nhiên, các đề tài chưa đi sâu vào thực trạng phát triển của biển Cửa Lò, cũng như đánh giá sự PTBV của bãi biển Cửa Lò. Vì vậy, em chọn đề tài: “ Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững tại bãi biển Cửa Lò – Nghệ An” để làm bài khóa luận tốt nghiệp của mình. Một số khái niệm cơ bản 1.
Du lịch Hiện nay, thuật ngữ du lịch trở nên rất thông dụng, nó bắt nguồn từ tiếng Hy lạp, với ý nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được la tinh hoá thành Tornus và sau đó thành Touriste (tiếng Pháp), Tourism (tiếng Anh). Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch được dịch thông qua tiếng Hán. Du nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải.
Du lịch gắn với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục hồi, nâng cao sức khỏe và nâng cao khả năng lao động của con người, nhưng du lịch lại liên quan mật thiết đến sự di chuyển chỗ ở của họ. Trong suốt 6 thập kỉ, kể từ khi Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch được thành lập năm 1925 tại Hà Lan thì khái niệm du lịch luôn được tranh luận. Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người, rời khỏi chỗ ở của mình trong thời gian ngắn để đến các vùng xung quanh nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh. Khái niệm du lịch của I.I Pirôgionic (1985) được sử dụng rộng rãi: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên, nhằm nghĩ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá”.
Luật du lịch Việt Nam năm 2005 định nghĩa: “Du lịch là những hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ra ngoài nơi cư trú thường 11 Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững tại bãi biển Cửa Lò - Nghệ An xuyên của mình, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng một khoảng thời gian nhất định”. Khách du lịch Việc xác định ai là du khách có nhiều quan điểm khác nhau. Ở đây cần phân biệt du lịch, khách thăm quan và lữ khách dựa vào tiêu thức: Mục đích, thời gian, không gian chuyến đi. Theo nhà kinh tế học người Anh: “Khách du lịch là tất cả những người thỏa mãn 2 điều kiện: rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian dưới 1 năm và chi tiêu tiền bạc mà nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở đó” Nhà xã hội học Cohen lại quan niệm: “Khách du lịch là một người đi tự nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới lạ và thay đổi thu nhận từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên”.
Năm 1937, Ủy ban thống kê của liên hiệp quốc đưa ra khái niệm về khách quốc tế như sau: “Du khách quốc tế là những người thăm viếng một quốc gia ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất là 24 giờ”. Tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người, có thể sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch. Là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm – khu du lịch, nhằm tạo ra sự hấp dẫn khách du lịch. - Tài nguyên du lịch tự nhiên Tài nguyên du lịch tự nhiên là các yếu tố, các hiện tượng tự nhiên, thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên… trực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch.
Giá trị cao nhất của tài nguyên du lịch tự nhiên là các di sản thiên nhiên thế giới. Luật du lịch Việt Nam năm 2005 định nghĩa:“Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ 12 Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững tại bãi biển Cửa Lò - Nghệ An sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”. - Tài nguyên du lịch nhân văn Tài nguyên du lịch nhân văn là những sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình phát triển, có sức hấp dẫn du khách và có thể khai thác PTDL để tạo ra hiệu quả về KT- XH - MT. Chúng thường là những giá trị văn hoá tiêu biểu, đặc sắc của mỗi quốc gia, mỗi địa phương.
Đối với tài nguyên du lịch nhân văn thì có những đặc trưng riêng, có giá trị nhận thức hơn là giải trí, ít chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, thường tập trung ở nơi đông dân, mức độ thu hút khách du lịch lớn, có sự lựa chọn… 1. Phát triển bền vững Từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, khi tăng trưởng kinh tế của nhiều nước trên thế giới đã đạt được tốc độ khá cao, người ta đã bắt đầu có những lo nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng nhanh đó đến tương lai con người và vấn đề PTBV được đặt ra. Theo thời gian, quan niệm về PTBV ngày càng được hoàn thiện. Năm 1987, vấn đề PTBV được Ngân hàng thế giới (WB) đề cập lần đầu tiên, theo đó PTBV là ".
Sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai". Quan niệm đầu tiên về PTBV của WB chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống của con người, trong quá trình phát triển của con người, chưa thấy vấn đề xã hội được đề cập đến. Ngày nay, quan điểm về PTBV được đề cập một cách đầy đủ hơn, bên cạnh yếu tố môi trường và tài nguyên thiên nhiên thì yếu tố môi trường xã hội được đặt ra với một ý nghĩa cũng vô cùng quan trọng trong vấn đề PTBV. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tổ chức Johannesbug (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: tăng 13 Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững tại bãi biển Cửa Lò - Nghệ An trưởng về mặt kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sống”.
Mối quan hệ đó được thể hiện qua hình vẽ sau: Hình 1.1: Mối quan hệ trong phát triển bền vững Môi trường Phát triển bền vững Xã hội Kinh tế Bền vững về mặt kinh tế: là phát triển nhanh và ổn định trong một thời gian dài. Tăng trưởng nhanh chưa chắc đã có được PTBV về mặt kinh tế. Vì thế, chúng ta phải luôn duy trì một tốc độ tăng trưởng ổn định, hợp lý và lâu dài, không nên chỉ chú trọng và nhấn mạnh vào tăng trưởng kinh tế. Bền vững về xã hội: Tính bền vững đó phải mang tính nhân văn hay nói một cách khác là phải đem lại phúc lợi và chia sẻ công bằng cho mọi cá nhân trong xã hội.
Phát triển phải được gắn liền với một xã hội ổn định, hoà bình, mở rộng và nâng cao năng lực lựa chọn cho mọi người, cùng với đó là việc nâng cao sự tham gia của cộng đồng vào quá trình phát triển. Bền vững về mặt môi trường: Môi trường sống có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống và sự phát triển của mỗi cá thể và của cộng đồng. Nó bao gồm toàn bộ các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học. và xã hội bao quanh.
14 Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững tại bãi biển Cửa Lò - Nghệ An Bền vững về mặt môi trường là ở đó con người có cuộc sống chất lượng cao, dựa trên nền tảng sinh thái bền vững.