CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề trên thế giới Thế giới đã và đang bước vào thế kỷ 21 với những chuyển biến nhanh chóng về khoa học – công nghệ và tiến bộ xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình quốc tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu sắc, bên cạnh sự hợp tác là sự cạnh tranh và ngày càng quyết liệt. Việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu đối với các nền kinh tế.
Chất lượng nguồn nhân lực sẽ là yếu tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh và sự thành công của mỗi quốc gia. Việc mở cửa thị trường lao động tạo ra sự dịch chuyển lao động giữa các nước, đòi hỏi các quốc gia phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của mình; mặt khác, đòi hỏi người lao động phải có năng lực cạnh tranh cao (trên cơ sở nâng cao vốn nhân lực, năng lực nghề nghiệp). Người lao động phải thường xuyên cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề và phải có năng lực sáng tạo, có khả năng thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của công nghệ và đòi hỏi người lao động phải học tập suốt đời. Hiện nay hầu hết các nước đã chuyển đào tạo từ hướng cung sang hướng cầu của thị trường lao động.
Nhận thức được tầm quan trọng đó trong những năm gần đây các quốc gia trên thế giới đã đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bởi đây chính là nguồn lực trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Trong đó, các nước đã rất chú trọng đến công tác đào tạo bồi dưỡng GVDN. Dưới đây chúng ta sẽ khảo sát việc đào tạo, bồi dưỡng GVDN của một số nước. - Đào tạo, bồi dưỡng GVDN ở Mỹ Vào những năm đầu thập kỷ 90, những nhà cải cách giáo dục kỹ thuật– nghề nghiệp Mỹ khẳng định rằng để nâng cao chất lượng đào tạo cần nâng cao năng lực GV và khởi đầu từ việc nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng GV trong các trường 8 sư phạm.
Những khoá đào tạo GV đã nâng cao tiêu chuẩn chọn lựa sinh viên đầu vào và yêu cầu cao về chất lượng ở đầu ra. Những khoá đào tạo này cũng chú ý nhiều đến phương pháp sư phạm, thực tế giảng dạy, những kinh nghiệm thực tế. Mô hình đào tạo GV ở Hoa Kỳ có thời gian 4 hoặc 5 năm, thời gian thực hành giảng dạy ở chương trình đào tạo 5 năm được đánh giá là nhiều và tốt hơn. Mô hình đào tạo song song cho GV phổ thông; mô hình đào tạo song song và cả nối tiếp cho GV các trường dạy nghề, giáo dục nghề nghiệp…Khả năng chuyên môn của GV được kiểm định qua 1 bài kiểm tra cụ thể hoặc học qua chương trình đào tạo được Ủy ban kiểm định chất lượng GV duyệt.
- Đào tạo GVDN ở CHLB Đức CHLB Đức là một trong số ít nước có truyền thống và nhiều kinh nghiệm trong việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV nói chung và GV kỹ thuật nói riêng một cách bài bản với chất lượng cao. Hiện tại ở CHLB Đức có tới 46 trường đại học có khoa/Viện SPKT đào tạo các loại GV cho các trường THCN- Dạy nghề. Việc đào tạo GV kỹ thuật cho các trường dạy nghề ở CHLB Đức theo một mô hình thống nhất. Tại Đức, các bang đều có chuẩn đào tạo GV.
Chuẩn gồm 4 lĩnh vực năng lực là dạy học, giáo dục, đánh giá, đổi mới và phát triển. Trước năm 2000, GV Đức được đào tạo trong các trường Đại học sư phạm, nhưng sau năm 2000 GV được đào tạo trong các trường đại học đa ngành và thực hiện theo tiêu chuẩn Châu Âu. Đức áp dụng mô hình đào tạo nối tiếp cho GV các trường dạy nghề, giáo dục nghề nghiệp. Về chương trình đào tạo, chương trình khung do bang xây dựng, trên cơ sở đó, các trường tự xây dựng chương trình đào tạo.
Ở Đức, GV tập sự là giai đoạn 2 của đào tạo GV sau giai đoạn đào tạo đại học. Bồi dưỡng GV do các bang và trường thực hiện với nhiều chương trình, nhiều cấp độ bồi dưỡng đa dạng, có hệ thống tư vấn hỗ trợ, có mạng bồi dưỡng trên internet. - Đào tạo, bồi dưỡng GVDN ở Úc Đào tạo GV của Úc thay đổi qua nhiều thời kỳ và các chương trình đào tạo GV đa dạng, linh hoạt theo nhu cầu đào tạo và chú trọng nghiên cứu, đổi mới các phương pháp giáo dục và học tập trong đào tạo GV. 9 Úc chưa có trường chuyên đào tạo GV cho giáo dục kỹ thuật và dạy nghề, chủ yếu đào tạo theo mô hình nối tiếp (Giáo dục phổ thông; giáo dục kỹ thuật và dạy nghề; giáo dục đại học).
Các khu vực được liên thông dọc và liên thông ngang với nhau. Giáo dục sau phổ thông đang được cơ cấu lại theo hướng các trường đa ngành, đa cấp học. Chương trình đào tạo GV do các trường xây dựng theo hướng dẫn, chuẩn đào tạo GV của quốc gia và bang. Các chương trình được xây dựng phải có luận chứng để trình duyệt, thẩm định theo quy định.
Cấu trúc chương trình gồm kiến thức chuyên ngành, phương pháp giáo dục, kiến thức, kỹ năng sư phạm, thực hành giảng dạy chuyên ngành… - Đào tạo, bồi dưỡng GVDN ở Philippin Ở Philippin GV kỹ thuật được đào tạo ban đầu trong 4 năm ở trường đại học SPKT hoặc 5 năm ở trường Đại học kỹ thuật. GV thực hành được đào tạo trong 3 năm. Để nâng cao năng lực đội ngũ GVDN, ở Philippin người ta đưa ra mô hình năng lực người GVDN gồm 24 năng lực nhỏ. Mô hình này được Chính phủ phê duyệt và quy định đến năm 2005 tất cả các GV phải đạt.
Mỗi GV tự đánh giá những năng lực còn yếu để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và tự bồi dưỡng. Nhà nước chi trả kinh phí bồi dưỡng theo kết quả đạt được hàng năm của từng GV. Các cơ sở dạy nghề sẽ kiểm tra năng lực thực tế sau khi hoàn thành các chương trình bồi dưỡng theo các tiêu chí đánh giá năng lực. Nếu GV nào không đạt sẽ không được tiếp tục giảng dạy.
Đào tạo, bồi dưỡng GVDN ở Việt Nam Thực hiện chính sách mở cửa Đảng và Nhà nước có chủ trương xã hội hoá giáo dục và đào tạo, làm cho sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp chung của mọi người dân, với quyết tâm “Chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu”. Từ năm 1990 đến nay các chủ trương, chính sách đã quan tâm và tập trung đầu tư nhiều hơn cho lĩnh vực giáo dục đào tạo và phát triển đội ngũ nhà giáo. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 đã chỉ rõ: “Củng cố, hoàn thiện hệ thống đào tạo sư phạm, đổi mới căn bản và toàn diện nội dung 10 chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ sức thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015. Tập trung đầu tư xây dựng các trường sư phạm và các khoa sư phạm tại các trường đại học để nâng cao chất lượng đào tạo GV” [19].
Thực hiện đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng với phương án kết hợp đào tạo trong và ngoài nước. Nâng tỷ lệ giảng viên trong các trường đại học có trình độ tiến sĩ lên 25% vào năm 2020. Đào tạo sau đại học cho đội ngũ GV của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Đồng thời chiến lược cũng nêu ra những bất cập đối với đội ngũ GV: “Một bộ phận nhà giáo và CBQL chưa đáp ứng được nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới.
Đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu cục bộ, vừa không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn. Tỷ lệ nhà giáo có trình độ sau đại học trong giáo dục đại học còn thấp; tỷ lệ sinh viên trên giảng viên chưa đạt mức chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010. Vẫn còn một bộ phận nhỏ nhà giáo và CBQL giáo dục có biểu hiện thiếu trách nhiệm và tâm huyết với nghề, vi phạm đạo đức và lối sống, ảnh hưởng xấu tới uy tín của nhà giáo trong xã hội. Năng lực của một bộ phận nhà giáo và CBQL giáo dục còn thấp.
Các chế độ chính sách đối với nhà giáo và CBQL giáo dục chưa thỏa đáng, chưa tạo được động lực phấn đấu vươn lên trong hoạt động nghề nghiệp. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được các yêu cầu đổi mới giáo dục” [19]. Vì vậy, xây dựng và phát triển đội ngũ GV đã được nhiều nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, đề cập ở các mức độ và khía cạnh khác nhau ở cấp vĩ mô cũng như vi mô. Có thể kể đến như: - Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai đoạn 2005 – 2010".
- Đề án đổi mới phát triển dạy nghề giai đoạn 2008 -2015 của Tổng cục Dạy nghề - Bộ LĐ-TB&XH. - Năm 2008, với đề tài “Quản lý phát triển đội ngũ GVDN trường CĐN Cần Thơ đến năm 2010”. 11 - Năm 2011, Nguyễn Văn Quế với đề tài “ Các giải pháp bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ GV nghề điện tại trường Trung cấp kỹ thuật và Nghiệp vụ Vinh”. - Năm 2011, “Quy hoạch phát triển nhân lực ngành GTVT giai đoạn 2011 - 2020” của Bộ GTVT.
- Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020. - Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011 – 2020. Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đề cập đến vấn đề đào tạo - bồi dưỡng phát triển đội ngũ GVDN ở các trường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp GDĐT. Tuy nhiên, trường TCN công trình 1 - Tổng công ty XDCT giao thông 1 chưa có đề tài nghiên cứu về các giải pháp phát triển đội ngũ GVDN.
Vì vậy việc nghiên cứu đánh giá thực trạng và các giải pháp phát triển đội ngũ GVDN của nhà trường là cần thiết. Giáo viên và đội ngũ GVDN 1.