Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Tổng quan chung về lĩnh vực nghiên cứu Hiện nay, vấn đề phát triển nguồn nhân lực, lao động có kỹ năng nghề luôn được toàn xã hội đặc biệt quan tâm. Cuộc cách mạng công nghệ tin học đã làm thay đổi nhu cầu về kỹ năng nghề đối với lực lượng lao động. Lực lượng công nhân sản xuất được đòi hỏi với yêu cầu cao hơn, đặc biệt là đối LĐNT.
C ng nghệ sản xuất tiên tiến đã mở ra phương hướng và cách thức nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Sản phẩm của nhà máy không chỉ đòi hỏi ở sự tinh xảo, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu người tiêu dùng mà còn đòi hỏi về năng suất nhằm tối ưu giá thành. Vì vậy, giáo dục kỹ thuật – đào tạo nghề cho người lao động cần phải được tiến hành hài hoà với những ứng dụng công nghệ thích hợp theo hướng thúc đẩy sản xuất. Trong sự nghiệp sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề dạy nghề cho LĐNT.
Từ năm 2005, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 4 năm 2005 Về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn và Th ng tư liên tịch số 06/2006/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 19 tháng 01 năm 2006 của Bộ Tài chính và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về Hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho LĐNT. Trong đó, đối tượng được áp dụng chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn là LĐNT trong độ tuổi lao động chưa qua học nghề, có nhu cầu học nghề, đủ điều kiện xét tuyển vào các khóa học nghề ngắn hạn. Năm 2009, nhằm nâng cao chất lượng LĐNT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa n ng nghiệp, nông thôn. Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành 7 Luan van Quyết định số 1956/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Đề án đào tạo nghề cho lao động n ng th n đến năm 2020” với quan điểm: Chuyển mạnh đào tạo nghề cho LĐNT từ đào tạo theo năng lực sẵn có của cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của LĐNT và yêu cầu của thị trường lao động; gắn đào tạo nghề với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng vùng, từng ngành, từng địa phương.
Đổi mới và phát triển đào tạo nghề cho LĐNT theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để LĐNT tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình. Về đối tượng của đề án: là LĐNT trong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học. Trong đó ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người thị thu hồi đất canh tác. Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho LĐNT, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi LĐNT, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho LĐNT nhằm tạo việc làm, chuyển nghề, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho LĐNT đào tạo nghề theo nhu cầu học nghề của LĐNT và yêu cầu của thị trường lao động; gắn đào tạo nghề với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng vùng, từng ngành, từng địa phương đào tạo nghề cho LĐNT theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để LĐNT tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình.
Sau những năm thực hiện Đề án 1956, nhìn chung công tác dạy nghề cho LĐNT có sự chuyển biến về chất lượng và hiệu quả đào tạo. Các cơ sở dạy nghề trong cả nước đã áp dựng các hình thức dạy nghề khác nhau như: tổ chức dạy nghề ngắn hạn tại các trường dạy nghề, tại địa phương (Ủy ban nhân dân, nhà văn hóa 8 Luan van phường, xã; tại các hộ dân); tập huấn nghiệp vụ cho các lớp nuôi, trồng được tổ chức tại trạm khuyến nông hoặc học ngay trên đồng ruộng. Tuy nhiên, tỷ lệ LĐNT đã qua đào tạo tham gia vào thị trường lao động chính thức và tự tạo việc làm còn thấp do việc ứng dụng vào thực tế các ngành nghề mà LĐNT đã học chưa mang lại hiệu quả cao nhất là các LĐNT ở các huyện, xã, ấp của tỉnh. Vì vậy, để đảm bảo đáp ứng nguồn nhân lực cho xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân lao động và thực hiện có hiệu quả Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Chính phủ về việc phê duyệt “Đề án đào tạo nghề cho lao động n ng th n đến năm 2020” thì cần thiết phải có các giải pháp để khắc phục vấn đề vừa nêu trên.1 Các nghiên cứu trên thế giới Singapore và Malaysia Thực hiện thành công chính sách phát triển giáo dục, Chính phủ các nước đã triển khai có hiệu quả chương trình đào tạo, dạy nghề cho người lao động nông th n, đặc biệt là đối với lao động trẻ có trình độ văn hóa trung học.
Học sinh tại các vùng n ng th n nghèo khó được theo học các lớp đào tạo, dạy nghề trong nhiều lĩnh vực do Chính phủ hỗ trợ một phần về tài chính. Chính phủ các nền kinh tế tăng trưởng cao đã rất chú trọng nâng dần mức chi tiêu cho giáo dục, đào tạo. Đa số học sinh nông thôn tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học dạy nghề đều tìm được việc làm trên thị trường lao động hoặc tự mở các cơ sở sản xuất – kinh doanh. [40] Trung quốc: Là một nước lớn về nông nghiệp, dân số nông thôn chiếm đến 80%, giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân là mấu chốt nhằm thực hiện hiện đại hóa.
Thành tựu nổi bật trong cải cách ở Trung Quốc là xuất phát cải cách trong nông nghiệp và cơ cấu lại kinh tế n ng th n. Trong đó, phát triển các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn và sản nghiệp hóa nông nghiệp là hai đặc trưng quan trọng 9 Luan van nhất trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn Trung Quốc, thông qua việc đào tạo nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, tổ chức kết hợp nông hộ với công ty hoặc nông hộ với tập thể tiến hành liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Kết hợp giữa nông nghiệp, công nghiệp và thương mại, kết nối các khâu thành một dây chuyền. Về mặt nghiên cứu, ngay từ những năm 2000, các nhà khoa học Trung Quốc đã nghiên cứu vấn đề “tam n ng” và đã đề xuất Đảng và nhà nước Trung Quốc đưa vấn đề “tam n ng” thành chiến lược phát triển Trung Quốc trong thế kỷ XXI.Từ các nghiên cứu việc đề xuất xây dựng các chương trình, dự án với sự tham gia của người dân, sự tham gia của cộng đồng làng xã được coi là những đề xuất có ý nghĩa, nhằm quản lý tốt chương trình, dự án.
[41] Mông cổ: Do nông nghiệp và n ng th n đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, chính sách việc làm khu vực nông thôn trở thành vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển nông thôn. Chính phủ đã đưa ra chương trình xúc tiến việc làm quốc gia, nhằm lồng ghép chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm vào chiến lược quốc gia, tăng cường sự chủ động tham gia của cơ quan chính phủ, cộng đồng, tăng khả năng tiếp cận thông tin về đào tạo nghề và việc làm với bảo vệ m i trường và phân bố lại dân cư n ng th n, tạo việc làm tại địa phương th ng qua việc phát triển du lịch và cơ sở hạ tầng. Chính sách thị trường lao động nhằm vào khuyến khích việc làm cho thanh niên và người nghèo, tăng cường phát triển kỹ năng và đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu thị trường, cải thiện thông tin và nâng cao nhận thức về khuyến khích việc làm. [41] Hàn Quốc: Chuyển giao kiến thức, đào tạo nghề, kỹ năng chuyên m n cho người lao động n ng th n để tạo ra năng lực làm việc có năng suất lao động cao là công việc chung của cả Nhà nước, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế trong xã hội.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc về vấn đề này là rất rõ ràng. Chính phủ phải là nhà đầu tư lớn nhất và toàn diện nhất vào xây dựng các cơ sở đào tạo nghề, nâng cao nghiệp vụ, kỹ 10 Luan van năng cho người lao động. Các doanh nghiệp và cơ sở kinh tế có trách nhiệm trong việc đưa ra nhu cầu, kế hoạch về sử dụng lao động và tham gia cùng Chính phủ dưới nhiều hình thức khác nhau trong triển khai các chương trình đạo tạo nghề cho người lao động mà mình đang sử dụng hoặc sẽ sử dụng. Để có nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế nông thôn, Chính phủ phải chủ động xây dựng và công bố các định hướng phát triển kinh tế trong dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trên quy mô cả nước và đối với từng vùng, trên cơ sở đó hình thành kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đáp ứng cho các nhu cầu của từng ngành và lĩnh vực kinh tế trên quy mô cả nước và đối với từng vùng, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế đang trong quá trình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, lĩnh vực để thực hiện CNH, HĐH.
Trong quá trình này, Chính phủ phải thường xuyên theo dõi sự biến chuyển của cơ cấu kinh tế để điều chỉnh kịp thời c ng tác đào tạo nguồn nhân lực mới cho các ngành đang và sẽ hình thành và đào tạo lại người lao động ở những ngành bị mất đi để giúp họ có đủ năng lực chuyển sang hoạt động ở các ngành kinh tế mới. Chính phủ phải chủ động đầu tư vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho quốc gia với những nghề mới, bao gồm các hoạt động dạy nghề cơ bản để tạo ra người lao động có trình độ chuyên môn về lý thuyết và có tay nghề thực tiễn, đủ khả năng đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của nền kinh tế.