lời mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn bao gồm 4 phần Phần 1: Cơ sở lý luận về thuế và dịch vụ tư vấn thuế Phần 2: Sử dụng số liệu và phương pháp nghiên cứu Phần 3: Thực trạng cung cấp dịch vụ tư vấn thuế tại công ty TNHH Manabox Việt Nam Phần 4: Một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ tư vấn thuế tại công ty TNHH Manabox Việt Nam 6 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ DỊCH VỤ TƯ VẤN THUẾ 1. Cơ sở lý luận về thuế 1. Khái niệm Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng (Giáo trình thuế, 2009). Việc không trả tiền, cùng với việc trốn tránh hoặc chống lại việc nộp thuế sẽ bị pháp luật trừng phạt.
Thuế bao gồm thuế trực tiếp hoặc gián tiếp và có thể được trả bằng tiền hoặc tương đương với giá trị lao động của nó. Hầu hết các quốc gia đều có một hệ thống thuế để chi trả cho các nhu cầu chung của quốc gia hoặc thỏa thuận hay thực hiện các chức năng của chính phủ. Một số đánh thuế tỷ lệ phần trăm cố định đối với thu nhập hàng năm của cá nhân, nhưng hầu hết các loại thuế dựa trên số tiền thu nhập hàng năm. Hầu hết các quốc gia đều đánh thuế thu nhập cá nhân cũng như thuế thu nhập doanh nghiệp.
Các quốc gia hoặc tiểu đơn vị cũng thường áp thuế tài sản, thuế thừa kế, thuế bất động sản, thuế quà tặng, thuế bán hàng, thuế lương hoặc thuế quan. Dưới góc độ kinh tế, thuế đã chuyển một phần sự giàu có từ các hộ gia đình và doanh nghiệp sang Chính phủ. Điều này có tác dụng vừa có thể làm tăng và giảm tăng trưởng kinh tế và phúc lợi kinh tế. Do đó, thuế vẫn còn đang là một chủ đề gây tranh luận cao.
Đặc điểm của thuế Các khoản thu thuế được tập trung vào Ngân sách nhà nước là những khoản thu nhập của nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Thuế là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Thuế dựa vào thực trạng của nền kinh tế (GDP, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất, thu nhập, lãi suất,. Tính bắt buộc Nhà kinh tế học nổi tiếng Joseph E.
Stiglitz cho rằng: “Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ người này sang người kia: Trong khi tất cả những khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là bắt buộc” (1986). Thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác dành cho người nộp thuế. Tính bắt buộc của thuế không mang nội dung hình sự, nghĩa là việc đóng thuế cho Nhà nước không phải là kết quả này sinh từ hành vi phạm pháp mà là nghĩa vụ đóng góp được pháp luật thừa nhận và xã hội tôn vinh. Tính bắt buộc được thể hiện dưới 2 khía cạnh sau: Đối với các cơ quan thu thuế: Thu thuế là nghĩa vụ bắt buộc đối với cán bộ, cơ quan thu thuế.
Cán bộ cơ quan thu thuế không được quyền lựa chọn đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế… Khoản 1 Điều 8 Luật Quản lí Thuế quy định: Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế là “Tổ chức thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật, lấy pháp luật làm căn cứ duy nhất để thực hiện”. Đối với người nộp thuế: Đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho nhà nước khi có đủ điều kiện do pháp luật thuế quy định mà không phải quan hệ thanh toán trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thỏa thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận. Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế.
Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện. Tính không hoàn trả trực tiếp Điều này được hiểu là người đóng nhiều thuế không được đòi hỏi quyền lợi cao hơn so với người đóng ít thuế hơn (khác với phí và lệ phí, càng cao thì quyền lợi được hưởng càng cao). Khác với khoản vay, phí và lệ phí, thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế (tuy nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng). Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế.
Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế. Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Bởi vì kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công (những lợi ích không thể xác định chính xác được theo giá trị vật chất). Thuế được thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, nên thuế không có đối khoản cụ thể.
Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đều được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Vì thế, khi xem xét khái niệm thuế cũng phải hiểu thuế trên hai góc độ: thuế vừa công cụ huy động nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thuế vừa là công cụ giúp Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội hay công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế. Tính pháp lý cao Tính pháp lý cao được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng các quy định cần thiết về phạm vi, hình thức và các thủ tục, quy trình pháp lý liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế. Các luật thuế sẽ do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành tránh việc thu thuế tùy tiện.
Ví dụ như Khoản 4 điều 84 của Hiến pháp Việt Nam 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) có quy định rằng chỉ có Quốc Hội mới có quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các thứ thuế. Vai trò của thuế - Thuế tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước: thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất, mang tính chất ổn định lâu dài và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng. - Công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô: Góp phần thực hiện chức năng kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch. Nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.
- Thuế giúp điều tiết nền kinh tế: thuế tham gia điều tiết nền kinh tế gồm hai mặt là kích thích và hạn chế. Thông qua thuế, Nhà nước đã linh hoạt điều chính các chính sách thuế trong từng thời kỳ nhất định, nhằm tác động vào cung – cầu giúp điều chỉnh chu kỳ kinh tế – một đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị trường. - Thuế giúp đảm bảo công bằng xã hội: thông qua thuế, Nhà nước sẽ điều tiết phần chênh lệch thu nhập giữa người giàu và người nghèo, bằng việc việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng. Dịch vụ tư vấn thuế 1.
Tư vấn thuế Theo từ điển tiếng Việt “Tư vấn là góp ý kiến về những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định”. Hiệp hội Tư vấn quản lý (MCA) ở Anh định nghĩa tư vấn là : “… tạo ra giá trị cho các tổ chức, thông qua việc áp dụng kiến thức, kỹ thuật và tài sản để cải thiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này đạt được thông qua việc đưa ra lời khuyên khách quan và/hoặc thực hiện các giải pháp kinh doanh.” Tóm lại, tư vấn thuế là cung cấp lời khuyên bên ngoài cho các tổ chức hoặc một quan điểm bên ngoài khách quan về doanh nghiệp của họ liên quan đến mọi vấn đề về thuế. Một chuyên gia tư vấn thuế cung cấp lời khuyên chuyên môn cho các tổ 10 chức cần sự hiểu biết chuyên sâu không chỉ về thuế mà còn nhiều lĩnh vực khác để giải quyết các vấn đề phức tạp.2 Dịch vụ tư vấn thuế Dịch vụ tư vấn thuế là các hoạt động chuyên nghiệp do các tổ chức hoặc cá nhân cung cấp cho các tổ chức và cá nhân khác để hoàn thành các thủ tục thuế (đăng ký thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế, hoàn thuế, miễn, giảm, gia hạn,…) và các thủ tục liên quan để hỗ trợ người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế (hỗ trợ kê khai thuế, thanh toán, lập kế hoạch thuế, giải quyết tranh chấp thuế,…) 1.
Phân loại dịch vụ tư vấn thuế Dịch vụ tư vấn thuế có thể được chia làm 2 loại chính: dịch vụ tư vấn thuế công và dịch vụ tư vấn thuế tư. Mô hình dịch vụ tư vấn thuế công được cung cấp bởi các Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hay các Chi cục thuế tại các quận, huyện. Quá trình thực hiện mô hình này từ trước tới giờ đã đạt được những kết quả khả quan, góp phần tăng cường ý thức tự giác, tự nguyện chấp hành nghĩa vụ thuế của các đối tượng nộp thuế, đảm bảo thực hiện nhiệm vụ thu đúng, thu đủ, thu kịp thời cho ngân sách Nhà nước và đã nhận được sự ủng hộ cao của các đối tượng nộp thuế. Dịch vụ tư vấn thuế công thường là miễn phí và người nộp thuế nếu có nhu cầu cần được tư vấn sẽ liên hệ đến đường dây nóng để gặp cán bộ quản lý, gửi thư đến cơ quan quản lý thuế và chờ phản hồi hoặc đến trực tiếp trụ sở để gặp cán bộ thuế và đưa ra các thắc mắc của mình.