Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1. Khái niệm đặc điểm, vai trò, bản chất pháp lý của hộ kinh doanh 1. Khái niệm hộ kinh doanh Ở Việt Nam, số lượng nhà đầu tư kinh doanh dưới hình thức là cá nhân và nhóm kinh doanh ở quy mô nhỏ, không thành lập doanh nghiệp chiếm tỷ trọng tương đối lớn và trong từng giai đoạn, chúng được gọi bằng tên khác nhau như trước Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh thì hộ kinh doanh được gọi là “hộ kinh doanh cá thể” và tên gọi “hộ kinh doanh cá thể” được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 24 Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004 của Chính phủ [29] về đăng ký kinh doanh (thay thế Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000). Sau đó, hộ kinh doanh được Khoản 1 Điều 36 Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ [28] ghi nhận và tên gọi này tiếp tục được Nghị định 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ [31] ban hành ngày 25/4/2010 (thay thế Nghị định 88/2006/NĐ-CP, có hiệu lực từ 01/06/2010) được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 49: Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.
Điều 2 của Bản Quy định ban hành kèm theo Nghị định 27-HĐBT ngày 09/03/1988 đã chỉ rõ: Các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh là các đơn vị kinh tế tự quản như có tư liệu sản xuất và các vốn khác, tự quyết định mọi vấn đề sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về thu nhập, lỗ lãi. Mọi công dân Việt Nam ngoại trừ những người là cán bộ công viên chức nhà nước tại chức hoặc xã viên hợp tác xã nếu có vốn, có tư liệu sản xuất, có kỹ thuật chuyên môn, sức lao động, đều có quyền đứng ra tổ chức sản xuất kinh doanh ở các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh. Các đơn vị kinh tế này được tổ chức họat động theo nhiều hình thức như: Hộ cá thể; hộ tiểu công nghiệp; xí nghiệp tư doanh và dần dần hình thành hộ kinh 6 doanh, doanh nghiệp tư nhân và các công ty ngày nay ở Việt Nam. Hộ cá thể theo Bản quy định này có điều kiện như sau: Tư liệu sản xuất và các vốn khác thuộc quyền sở hữu của người đứng tên đăng ký kinh doanh; Chủ đăng ký kinh doanh phải là người lao động trực tiếp, những người lao động khác phải là bố mẹ, vợ chồng, các con nếu là người thân thì phải có tên trong sổ hộ khẩu của người chủ kinh doanh; Thu nhập sau khi đóng thuế thuộc quyền sở hữu của chủ hộ.
Chúng ta có thể hiểu, hộ gia đình chính là cá nhân kinh doanh hay thương nhân thể nhân tiến hành hoạt động kinh doanh cho chính mình và gây khó khăn không ít trong việc giải quyết tranh chấp. Như vậy, khái niệm “hộ cá thể” và “hộ tiểu công nghiệp” theo Nghị định 27-HĐBT ngày 09/03/1988 của Hội Đồng Bộ Trưởng đã có nhiều thay đổi qua các Nghị định nêu trên, bản chất cá nhân kinh doanh và dấu ấn gia đình ngày càng mờ đi, mặt dù thuật ngữ “hộ gia đình” được sử dụng trong các định nghĩa vừa dẫn trên. Từ định nghĩa trên về “hộ kinh doanh”, cho thấy hộ kinh doanh được chia thành ba loại căn cứ vào chủ tạo lập nó: Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ; hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ; hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ. Đây là đặc thù rất riêng của pháp luật Việt Nam, tuy nhiên tính phù hợp hay không phù hợp cũng cần phải xem xét.
“Hộ gia đình” được kinh doanh như vừa nói trên, có lẽ xuất phát từ Bộ Luật Dân sự 1995[58], được cụ thể hóa tại Điều 106 Mục 1 Chương V Bộ Luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 27/06/2005 [59] quy định: Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này, theo nghĩa rộng hộ gia đình là chủ thể của quan hệ dân sự, vì thế, có nhiều vấn đề để suy nghĩ. Một, “Hộ gia đình” không phải là cá nhân và cũng không phải là pháp nhân mà là một chủ thể đặc biệt của pháp luật Việt Nam. Do đó, hộ kinh doanh cá thể hay hộ kinh doanh không hoàn toàn là thương nhân thể nhân, nhưng theo Nghị định 27- 7 HĐBT ngày 09/03/1988, cho rằng hộ cá thể và hộ tiểu công nghiệp (hình thức đầu tiên của hộ kinh doanh cá thể hay hộ kinh doanh), là thương nhân thể nhân. Hai, Dấu hiệu “hộ gia đình” được thể hiện qua quan hệ quen biết, thân thiết, cùng trú ngụ một nơi hoặc cùng kiếm sống dựa vào cùng một sản nghiệp.
Tuy nhiên, số lượng các thành viên thuộc hộ gia đình có thể biến động dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp có liên quan nhưng trong thực tiễn tư pháp, người ta thường xác định tập hợp thành viên hộ gia đình thông qua sổ hộ khẩu, đây không phải là việc làm hợp lý, bởi sự tồn tại của sổ hộ khẩu không có cơ sở để đứng vững trong giai đoạn hiện nay và hơn nữa sổ hộ khẩu không nói lên vấn đề rằng các thành viên có cùng trú ngụ hoặc cùng kiếm sống hay không. Do vậy, phải đưa vào nội dung đăng ký kinh doanh, vì vấn đề thành viên có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ lợi ích các chủ nợ của hộ kinh doanh. Nghị định 88/2006/NĐ-CP cũng như Nghị định 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ cho phép “một nhóm người” [31, khoản1, Điều 49], được kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh, việc cho phép này có tác dụng thúc đẩy kinh doanh nhưng gây khó khăn về mặt pháp lý, nhất là về chế độ trách nhiệm của toàn thể, từng thành viên trong nhóm. Bản chất thuật ngữ “nhóm người” rất khó xác định về nhiều khía cạnh như về số lượng thành viên trong nhóm có hạn định không?.
Các thành viên trong nhóm có đặc điểm gì về nhân thân hay không…? Pháp luật Việt Nam chỉ phân biệt hộ kinh doanh với doanh nghiệp thông qua việc sử dung lao động, hộ kinh doanh chỉ được sử dụng không quá mười lao động, nếu từ mười lao động thì hộ kinh doanh phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp. Như vậy, có thể hiểu pháp luật Việt Nam quan niệm hộ kinh doanh và các hình thức công ty không khác gì nhau về hình thức kết cấu mà chỉ khác về quy mô kinh doanh. Pháp luật Hoa Kỳ quan niệm: Doanh nghiệp cá thể (sole propriettorship) là một doanh thương (a business) được vận hành bởi một người như một tài sản cá nhân của người đó và doanh nghiệp (enterprise) này là sự mở rộng đơn thuần của chủ sở hữu cá nhân[88, tr.16]; Pháp luật Pháp quan niệm: Thương nhân thể nhân, người ta dẫn Điều 1, Bộ Luật Thương Mại Pháp 1807, theo đó thương nhân có thể 8 là thể nhân hoặc pháp nhân. Thương nhân là một cá nhân chuyên thực hiện các hành vi thương mại và lấy chúng làm nghề nghiệp thường xuyên của mình; Pháp luật Anh quan niệm: Thương nhân đơn lẻ (sole trader) là một người tiến hành kinh doanh với tài khỏan của mình, lựa chọn nơi thích hợp để hoạt động, có hoặc không có sự giúp đỡ của người làm công trong kinh doanh, vốn góp ban đầu là nguồn vốn cá nhân do tiết kiệm hoặc vay mượn cá nhân.
Như vậy, mặc dù với tên gọi khác nhau nhưng bản chất pháp lý của chúng không có gì thay đổi. Hiểu theo nghĩa chung nhất, “hộ kinh doanh” là do cá nhân hoặc những người có mối quan hệ nhất định cùng bỏ vốn ra để thực hiện hoạt động kinh doanh kiếm lời, cùng hưởng lãi, chịu lỗ và cùng chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh, lấy kinh doanh làm nghề chính. Có thể phân biệt hộ kinh doanh với các chủ thể kinh doanh khác dựa vào các yếu tố: Hộ kinh doanh hoạt động mang tính chất nhỏ lẻ, có quy mô nhỏ, vốn thấp, số lượng lao động ít; Xuất phát từ nguồn gốc người Á Đông, truyền thống người Việt Nam, hộ kinh doanh thực hiện kinh doanh theo kiểu gia đình, bao gồm nhiều quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng cùng tham gia kinh doanh. Họ không có hoặc có rất ít người làm công, người giúp việc thường là người trong gia đình; xuất phát từ quy mô kinh doanh nhỏ, thành lập dựa trên mối quan hệ gia đình, dòng họ, bạn bè nên hộ kinh doanh không có bộ máy điều hành chính thức, chủ sở hữu trực tiếp quản lý và điều hành công việc kinh doanh.
Chính vì vậy, ngày 14/9/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 78/2015/NĐ- CP[33] (thay thế Nghị định 43/2010/NĐ-CP), có hiệu lực từ 01/11/2015 và cho đến hiện nay “Hộ kinh doanh” được điều chỉnh bởi Nghị định này và khái niệm “hộ kinh doanh”được quy định tại Khoản 1 Điều 66: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Xét về nội hàm khái niệm, có thể thấy hộ kinh doanh là một loại chủ thể kinh doanh, được thành lập, đăng ký theo quy định của pháp luật nhằm tiến hành hoạt 9 động kinh doanh và trường hợp không được xem là hộ kinh doanh cũng được Nghị định 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định nhằm xác định ranh giới trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi loại chủ thể. Theo đó, hộ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối hoặc họat động mang hình thức kinh doanh nhưng thực chất vốn đầu tư nhỏ lẻ, chủ yếu là lấy công kiếm lời, những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động hay làm dịch vụ có thu nhập thấp thì không phải đăng ký kinh doanh và không được coi là hộ kinh doanh, trừ trường hợp kinh doanh ngành, nghề có điều kiện phải đăng ký kinh doanh để Nhà nước quản lý.