Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống pháp luật thuế Việt Nam, thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là sắc thuế trực thu giữ vai trò trọng yếu trong việc điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, góp phần bảo đảm công bằng xã hội và tạo lập nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước. Lịch sử lập pháp thuế thu nhập tại Việt Nam ghi nhận sự phát triển qua nhiều giai đoạn: từ Thuế lợi tức lương bổng năm 1962 (cải cách năm 1972) ở miền Nam trước năm 1975, đến Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 1990 (được sửa đổi, bổ sung 6 lần vào các năm 1992, 1993, 1994, 1999, 2001 và 2004), và sau đó được thay thế toàn diện bằng Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (sửa đổi năm 2012 và năm 2014).

Thu nhập từ hoạt động kinh doanh của cá nhân, hộ kinh doanh chiếm tỷ trọng số lượng chủ thể rất lớn trong nền kinh tế nhưng đóng góp ngân sách chưa tương xứng và tiềm ẩn nhiều khó khăn trong quản lý hành thu do tính chất kinh doanh nhỏ lẻ, thiếu ổn định, sổ sách kế toán chưa hoàn chỉnh. Bước ngoặt lập pháp diễn ra khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) và Thông tư số 92/2015/TT-BTC chuyển đổi căn bản phương pháp thu thuế TNCN từ hoạt động kinh doanh: bãi bỏ việc xác định thu nhập chịu thuế trên cơ sở doanh thu trừ chi phí và giảm trừ gia cảnh theo biểu thuế lũy tiến từng phần, quay trở lại phương thức áp dụng tỷ lệ phần trăm ấn định trực tiếp trên doanh thu đối với cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm. Sự thay đổi này dù giúp đơn giản hóa quy trình hành thu nhưng bộc lộ nhiều điểm chưa hợp lý về mặt lý luận thuế trực thu, tạo ra xung đột với nguyên tắc công bằng và gây áp lực tài chính đối với những người kinh doanh có thu nhập thấp.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận gồm:

  1. Nghiên cứu toàn diện, có hệ thống cơ sở lý luận về thuế TNCN đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh của cá nhân.
  2. Phân tích nội dung các quy định pháp luật thực định hiện hành về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, căn cứ tính thuế và công tác quản lý thuế (đăng ký, kê khai, nộp thuế).
  3. Nhận diện các khó khăn, bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng phương pháp tính thuế trên doanh thu, thuế khoán có sử dụng hóa đơn và bảo đảm nguyên tắc công bằng.
  4. Đề xuất các giải pháp, kiến nghị có cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật thuế TNCN đối với hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được triển khai tương ứng:

  1. Làm rõ khái niệm, đặc điểm, sự phát triển lập pháp và vai trò xã hội của thu nhập từ hoạt động kinh doanh của cá nhân.
  2. Rà soát, đối chiếu các quy chuẩn pháp luật thực định trong Luật Thuế TNCN năm 2007, Luật số 71/2014/QH13, Nghị định số 12/2015/NĐ-CP và Thông tư số 92/2015/TT-BTC.
  3. Đánh giá tính hợp lý và tác động thực tiễn của cơ chế tính thuế mới so với các nhóm chủ thể khác (doanh nghiệp tư nhân, người làm công ăn lương).

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống quy định pháp luật về thuế TNCN đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào pháp luật Việt Nam, có mở rộng so sánh với kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia (Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc) và quy định tại Hiệp định tránh đánh thuế hai lần; phạm vi thời gian bao quát từ các văn bản tiền thân đến các đạo luật, nghị định, thông tư có hiệu lực tại thời điểm năm 2015–2016; phạm vi quản lý thuế giới hạn ở các khâu đăng ký, cấp mã số thuế, khai thuế và nộp thuế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu pháp lý

Khóa luận xây dựng lập luận dựa trên lý thuyết về thuế thu nhập và nguyên tắc công bằng trong phân phối thu nhập quốc dân. Khái niệm "thu nhập" được tiếp cận từ góc độ phân phối của cải xã hội dưới hình thức tiền tệ (theo quan điểm của Nguyễn Như Phát, 2007; Từ điển Tiếng Việt; Phan Thị Thành Dương, 2002), và khái niệm "kinh doanh" được xác định theo Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 số 68/2014/QH13. Khung lý thuyết trọng tâm là bản chất của thuế TNCN với tư cách là một sắc thuế trực thu, đánh trực tiếp vào thu nhập ròng theo khả năng chi trả của người nộp thuế thông qua việc khấu trừ chi phí hợp lý tạo ra thu nhập và áp dụng giảm trừ gia cảnh.

Khung văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng bao gồm:

  • Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (Luật số 04/2007/QH12).
  • Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2012 (Luật số 26/2012/QH13).
  • Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế năm 2014 (Luật số 71/2014/QH13).
  • Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Luật số 68/2014/QH13); Luật Đầu tư năm 2014 (Luật số 67/2014/QH13); Luật Xây dựng năm 2014 (Luật số 50/2014/QH13); Luật Luật sư năm 2006 (Luật số 65/2006/QH11).
  • Nghị định số 12/2015/NĐ-CP; Thông tư số 111/2013/TT-BTC; Thông tư số 119/2014/TT-BTC; Thông tư số 92/2015/TT-BTC.
  • Các điều ước quốc tế về thuế, trọng tâm là Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Nhật Bản về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập.

Phương pháp nghiên cứu được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp lý cụ thể:

  • Phương pháp phân tích quy phạm: phân tích từng điều khoản luật thực định liên quan đến đối tượng nộp thuế, doanh thu chịu thuế, căn cứ tính thuế và thủ tục quản lý thuế.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: đối chiếu cơ chế tính thuế cũ (Thông tư số 111/2013/TT-BTC) và cơ chế tính thuế mới (Thông tư số 92/2015/TT-BTC); so sánh nghĩa vụ thuế giữa cá nhân kinh doanh với doanh nghiệp tư nhân và người có thu nhập từ tiền lương, tiền công; so sánh tiêu chí cư trú thuế với pháp luật của Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc.
  • Phương pháp tổng hợp: hệ thống hóa các quan điểm khoa học từ các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước (Lê Thị Thu Sang, Phan Phương Nam, Phan Thị Hương Vũ, Trần Xuân Đài, Hà Thị Thúy Vân, Trung Kiên) để luận giải bất cập và đề xuất định hướng lập pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh

Chương này tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng và hệ thống hóa các quy định pháp luật thực định về thuế TNCN đối với hoạt động kinh doanh của cá nhân:

  1. Những vấn đề lý luận chung về thu nhập từ hoạt động kinh doanh: Tác giả xác định thu nhập từ hoạt động kinh doanh là tổng lợi ích vật chất mà các chủ thể nhận được thông qua việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi. Thu nhập này có hai đặc điểm cơ bản: mang lại lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu thu nhập và mang tính chất thường xuyên, ổn định để duy trì cuộc sống cá nhân cùng người phụ thuộc. Trong lịch sử, hoạt động kinh doanh từng chịu sự điều chỉnh của Thuế lợi tức (1991–1998), sau đó là Thuế thu nhập doanh nghiệp (1999–2008). Từ ngày 01/01/2009, Luật Thuế TNCN năm 2007 chính thức đưa hoạt động kinh doanh của cá nhân thành 1 trong 10 khoản thu nhập chịu thuế TNCN, tạo sự bình đẳng giữa các nguồn thu nhập của thể nhân và chấm dứt việc áp dụng thuế doanh nghiệp cho cá nhân không có tư cách pháp nhân.

  2. Đối tượng nộp thuế: Pháp luật Việt Nam xác định đối tượng nộp thuế dựa trên nơi cư trú (cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú) thay vì chỉ căn cứ vào nguồn gốc thu nhập hay quốc tịch. Cá nhân cư trú phải nộp thuế cho thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam; cá nhân không cư trú chỉ nộp thuế đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Điều kiện xác định cá nhân cư trú gồm: có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch/12 tháng liên tục, hoặc có nơi ở thường xuyên (đăng ký thường trú/tạm trú hoặc có hợp đồng thuê nhà để ở từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế). Tuy nhiên, theo quy định áp dụng từ năm 2015, chỉ những cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở lên mới thuộc diện nộp thuế TNCN.

  3. Đối tượng chịu thuế: Thu nhập chịu thuế từ hoạt động kinh doanh được phân chia thành 4 nhóm cụ thể:

  • Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các ngành nghề. Đối với sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chỉ chịu thuế nếu không đáp ứng điều kiện miễn thuế (phải có quyền sử dụng/thuê đất, mặt nước hợp pháp, trực tiếp sản xuất và cư trú tại địa phương cấp huyện nơi diễn ra hoạt động sản xuất).
  • Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo luật định (bác sĩ, kế toán, kiểm toán, luật sư, kiến trúc sư...).
  • Thu nhập từ làm đại lý bán đúng giá đối với đại lý xổ số, bảo hiểm, bán hàng đa cấp (bản chất thu nhập chịu thuế là khoản tiền hoa hồng được hưởng).
  • Thu nhập từ hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với tổ chức mà không thành lập pháp nhân mới.
  1. Căn cứ tính thuế và quản lý thuế: Phân tích sự chuyển dịch từ cơ chế tính thuế dựa trên "thu nhập tính thuế x biểu thuế suất lũy tiến từng phần" sang cơ chế "doanh thu tính thuế x tỷ lệ thuế ấn định". Tác giả trình bày chi tiết phương pháp khoán đối với cá nhân kinh doanh (thời điểm xác định doanh thu khoán từ 20/11 đến 15/12 hàng năm; hộ kinh doanh theo thời vụ hoặc nghỉ kinh doanh được giảm trừ thuế theo số tháng thực tế ngừng hoạt động), phương pháp khai thuế theo từng lần phát sinh, phương pháp cho thuê tài sản và đại lý bán đúng giá.

Chương 2: Một số bất cập, hạn chế về quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh và một số kiến nghị hoàn thiện

Chương 2 là phần trọng tâm phân tích thực trạng bất cập lập pháp và đề xuất các giải pháp khắc phục có tính hệ thống:

  1. Bất cập về doanh thu tính thuế và kiến nghị:
  • Mức doanh thu 100 triệu đồng/năm (tương đương 8,4 triệu đồng/tháng hoặc 280.000 đồng/ngày) để xác định ngưỡng chịu thuế là quá thấp so với chi phí hoạt động và điều kiện kinh tế thực tế. Đơn cử một người bán hủ tiếu với giá 30.000 đồng/tô, chỉ cần bán 10 tô mỗi ngày đã vượt ngưỡng và phải chịu thuế.
  • Quy định mâu thuẫn về ngưỡng thuế: Nếu doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm thì được miễn; nhưng khi đạt từ 100 triệu đồng trở lên (ví dụ 150 triệu đồng) thì người nộp thuế phải đóng thuế trên toàn bộ 150 triệu đồng chứ không được trừ đi phần 100 triệu đồng không chịu thuế.
  • Mâu thuẫn văn bản: Nghị định số 12/2015/NĐ-CP xác định doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, hoa hồng, dịch vụ; trong khi Thông tư số 92/2015/TT-BTC lại quy định doanh thu tính thuế là "doanh thu bao gồm thuế", gây thiếu thống nhất trong giải thích và áp dụng.
  • Kiến nghị: Nâng ngưỡng doanh thu miễn thuế lên 150 triệu đồng/năm (12,5 triệu đồng/tháng) theo đề xuất của Bộ Tài chính nhằm đảm bảo tương quan với mức giảm trừ gia cảnh của người làm công ăn lương (151,2 triệu đồng/năm đối với người có 1 người phụ thuộc). Đổi mới cách tính thuế: chỉ đánh thuế trên phần doanh thu vượt ngưỡng (ví dụ đạt 200 triệu đồng thì doanh thu tính thuế là 50 triệu đồng). Thống nhất định nghĩa doanh thu giữa Nghị định và Thông tư.
  1. Bất cập về tỷ lệ tính thuế trên doanh thu và kiến nghị: Biểu tỷ lệ thuế ấn định theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC bộc lộ sự bất hợp lý:
Lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh Tỷ lệ thuế GTGT Tỷ lệ thuế TNCN Tổng tỷ lệ thuế
Phân phối, cung cấp hàng hóa 1,0% 0,5% 1,5%
Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu 5,0% 2,0% 7,0%
Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu 3,0% 1,5% 4,5%
Hoạt động kinh doanh khác 2,0% 1,0% 3,0%
Cho thuê tài sản, đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, bán hàng đa cấp 5,0% 5,0% 10,0%
  • Hạn chế phát sinh: Khoảng chênh lệch lớn giữa "dịch vụ không bao thầu" (tổng thuế 7%) và "dịch vụ có gắn với hàng hóa" (tổng thuế 4,5%) tạo kẽ hở để người nộp thuế gian lận bằng cách kê khai thêm hàng hóa vào dịch vụ để hạ tỷ lệ thuế. Việc phân loại danh mục dịch vụ cũng thiếu rõ ràng (dịch vụ đào tạo, chuyển giao công nghệ kèm bán sản phẩm chịu 4,5%, nhưng hỗ trợ văn phòng, kinh doanh khác chịu 7%; vũ trường có gắn với đồ uống/hàng hóa nhưng lại bị xếp vào dịch vụ).
  • Kiến nghị: Chuyển nhóm "dịch vụ có gắn với hàng hóa" sáp nhập chung vào nhóm "dịch vụ" và áp dụng chung một tỷ lệ thuế TNCN thống nhất là 1,5% để ngăn chặn hành vi kê khai lách thuế.
  1. Bất cập trong nộp thuế khoán có sử dụng hóa đơn và kiến nghị:
  • Theo quy định có hiệu lực từ 01/01/2016 tại Thông tư số 92/2015/TT-BTC, cá nhân nộp thuế khoán có sử dụng hóa đơn của cơ quan thuế phải nộp thuế căn cứ theo cả "doanh thu khoán" cộng với "doanh thu trên hóa đơn", không phân biệt hóa đơn quyển hay hóa đơn lẻ. Cơ chế này xóa bỏ quy định bù trừ chênh lệch của Thông tư số 111/2013/TT-BTC (trước đây chỉ nộp bổ sung nếu doanh thu hóa đơn vượt doanh thu khoán).
  • Quy định này nhằm triệt tiêu hiện tượng hộ kinh doanh xuất bán hóa đơn cho doanh nghiệp (với phí 1,6%–2% nhằm trốn thuế TNDN 20%), nhưng dẫn đến tình trạng "thuế chồng thuế", đẩy số thuế phải nộp lên quá cao đối với các hộ thực sự phát sinh nhu cầu xuất hóa đơn hợp pháp cho khách hàng, tạo áp lực chuyển sang trốn thuế ngầm.
  • Kiến nghị: Khôi phục cơ chế tính thuế trên phần chênh lệch giữa doanh thu trên hóa đơn và doanh thu khoán; cơ quan thuế cần tăng cường kiểm tra, thanh tra đột xuất chi phí hóa đơn đầu vào của các doanh nghiệp thay vì áp dụng cơ chế tận thu đối với hộ kinh doanh khoán.
  1. Bất cập trong việc bảo đảm nguyên tắc công bằng của thuế TNCN: Khóa luận so sánh định lượng nghĩa vụ thuế giữa năm 2014 và 2015 để chứng minh cơ chế mới làm tổn hại nguyên tắc công bằng:
  • Bất công giữa người kinh doanh thu nhập thấp và thu nhập cao: Theo luật cũ năm 2014, cá nhân thương mại không có người phụ thuộc đạt doanh thu dưới 128 triệu đồng/tháng được miễn thuế (sau khi nhân tỷ lệ thu nhập chịu thuế 7% và trừ giảm trừ gia cảnh 9 triệu đồng). Theo luật mới năm 2015, người có doanh thu 8,4 triệu đồng/tháng đã phải nộp thuế. Chỉ những cá nhân có doanh thu lớn (trên 380 triệu đồng/tháng đối với phân phối hàng hóa, trên 230 triệu đồng/tháng đối với sản xuất/vận tải) mới có lợi hơn so với cách tính cũ. Đối với dịch vụ không bao thầu vật liệu, doanh thu 30 triệu đồng/tháng trước năm 2015 không phải nộp thuế, nhưng từ năm 2015 phải nộp 7,2 triệu đồng/năm.
  • Bất công so với Doanh nghiệp tư nhân: Cả hai chủ thể đều chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản, nhưng doanh nghiệp tư nhân được trừ chi phí hợp lý để tính thuế TNDN trên lợi nhuận thực tế (lỗ không phải nộp thuế), trong khi cá nhân kinh doanh dù thua lỗ vẫn phải nộp thuế TNCN tối thiểu ấn định trên doanh thu.
  • Bất công so với người làm công ăn lương: Người làm công ăn lương được giảm trừ gia cảnh bản thân (9 triệu đồng/tháng) và người phụ thuộc (3,6 triệu đồng/người/tháng), đạt mức thu nhập trên 151,2 triệu đồng/năm (nếu có 1 người phụ thuộc) mới chịu thuế. Ngược lại, cá nhân kinh doanh dù nuôi bao nhiêu người phụ thuộc thì cứ có doanh thu trên 8,4 triệu đồng/tháng (100 triệu đồng/năm) là bị điều tiết thuế, hoàn toàn triệt tiêu ý nghĩa xã hội của chế định giảm trừ gia cảnh.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các phát hiện và đóng góp cụ thể:

  1. Kết quả trích xuất số liệu và chứng minh bất cập pháp lý:
  • Làm rõ sự chuyển đổi cơ chế tính thuế theo Luật số 71/2014/QH13 làm mất đi bản chất của thuế TNCN – từ một sắc thuế trực thu đánh vào thu nhập ròng dựa trên khả năng chi trả và hoàn cảnh gia cảnh chuyển sang mang đặc tính của thuế gián thu đánh trên doanh thu.
  • Hệ thống hóa các mốc doanh thu chịu thuế tạo ra sự chênh lệch lớn giữa quy định năm 2014 và năm 2015: ngưỡng doanh thu hòa vốn không chịu thuế của ngành thương mại giảm từ 128 triệu đồng/tháng xuống còn 8,4 triệu đồng/tháng; ngành dịch vụ không bao thầu giảm từ 30 triệu đồng/tháng xuống 8,4 triệu đồng/tháng.
  • Xác định điểm doanh thu bắt đầu có lợi cho người nộp thuế: cá nhân phân phối hàng hóa chỉ có lợi về thuế theo luật mới khi doanh thu đạt trên 380 triệu đồng/tháng; cá nhân sản xuất, vận tải có lợi khi đạt trên 230 triệu đồng/tháng. Điều này khẳng định quy định mới mang lại lợi ích cho người có thu nhập cao và gây thiệt hại cho người kinh doanh nhỏ lẻ.
  1. Hệ thống đề xuất hoàn thiện chính sách:
  • Nâng mức doanh thu không chịu thuế lên 150 triệu đồng/năm và chuyển cách tính sang đánh thuế trên phần doanh thu vượt ngưỡng.
  • Hợp nhất nhóm dịch vụ có gắn hàng hóa vào nhóm dịch vụ với mức thuế TNCN 1,5% để loại trừ việc lợi dụng phân loại nhằm giảm trừ nghĩa vụ nộp thuế.
  • Khôi phục nguyên tắc nộp thuế khoán bổ sung trên phần chênh lệch doanh thu hóa đơn cao hơn doanh thu khoán, đồng thời kiểm soát gian lận hóa đơn từ phía doanh nghiệp mua hàng.
  • Từng bước hoàn thiện thể chế kế toán giản đơn cho hộ kinh doanh để quay lại phương thức xác định thu nhập chịu thuế bằng doanh thu trừ chi phí hợp lý.
  1. Đóng góp của nghiên cứu: Khóa luận là công trình nghiên cứu ở cấp độ cử nhân luật chuyên ngành thương mại phân tích một cách chuyên biệt, có tính hệ thống và bám sát các văn bản sửa đổi bổ sung ngành thuế năm 2014–2015 (Luật số 71/2014/QH13 và Thông tư số 92/2015/TT-BTC). Tác giả đã đặt các quy định pháp luật thuế thực định vào thế đối chiếu đa chiều với các nguyên tắc luật học, bản chất sắc thuế và quyền lợi kinh tế của nhóm đối tượng hộ kinh doanh cá thể.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có những giới hạn nghiên cứu được ghi nhận từ văn bản:

  • Hạn chế: Về mặt quản lý thuế, nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi các thủ tục đăng ký, cấp mã số thuế, khai thuế và nộp thuế; chưa đi sâu phân tích toàn diện các quy trình kiểm tra thuế, thanh tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế đối với cá nhân kinh doanh. Nguồn dữ liệu thực tiễn và số liệu kinh tế dựa trên phản ánh ban đầu của các địa phương và cơ quan quản lý tại thời điểm Luật số 71/2014/QH13 và Thông tư số 92/2015/TT-BTC mới đi vào triển khai (năm 2015 – 2016).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động kinh tế - xã hội của Thông tư số 92/2015/TT-BTC qua nhiều chu kỳ tính thuế; mở rộng nghiên cứu thực tiễn công tác quản lý thu thuế khoán tại các Chi cục Thuế địa phương; nghiên cứu cơ chế quản lý thuế đối với các mô hình kinh doanh cá nhân mới phát sinh như thương mại điện tử, kinh doanh qua mạng xã hội và dịch vụ kinh tế chia sẻ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Luật Thương mại, Luật Tài chính - Ngân hàng, cung cấp hệ thống luận cứ phân tích nguyên tắc công bằng trong thuế khóa và kỹ thuật lập pháp đối với thuế trực thu.
  • Sinh viên và giảng viên khối ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế: Tham khảo phương pháp so sánh định lượng nghĩa vụ tài chính, hiểu rõ cấu trúc biểu thuế khoán, tỷ lệ thuế trên doanh thu và tác động của chính sách thuế đến sự tồn tại, chuyển đổi mô hình của hộ kinh doanh cá thể thành doanh nghiệp.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất: Mục 2.4 Chương 2 với các bài toán so sánh chi tiết số thuế phải nộp giữa quy định cũ và mới, cùng các lập luận đối chiếu sự bất bình đẳng giữa cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân và người có thu nhập từ tiền lương, tiền công.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định mới từ ngày 01/01/2015, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 100 triệu đồng/năm thì doanh thu tính thuế được xác định như thế nào? Theo Luật số 71/2014/QH13 và hướng dẫn tại Thông tư số 92/2015/TT-BTC, mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống là ngưỡng không phải nộp thuế. Tuy nhiên, nếu cá nhân có doanh thu vượt 100 triệu đồng/năm (ví dụ 150 triệu đồng) thì toàn bộ khoản doanh thu 150 triệu đồng này đều phải chịu thuế theo tỷ lệ ấn định của ngành nghề, người nộp thuế không được trừ đi 100 triệu đồng ngưỡng miễn thuế trước khi tính thuế.

2. Điểm khác biệt căn bản trong việc nộp thuế khoán có sử dụng hóa đơn giữa Thông tư số 111/2013/TT-BTC và Thông tư số 92/2015/TT-BTC là gì? Theo Thông tư số 111/2013/TT-BTC, cá nhân nộp thuế khoán sử dụng hóa đơn quyển chỉ phải nộp bổ sung thuế đối với phần doanh thu trên hóa đơn cao hơn doanh thu khoán. Ngược lại, theo Điểm a1 Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 92/2015/TT-BTC (áp dụng từ 01/01/2016), doanh thu tính thuế được xác định bằng "doanh thu khoán" cộng với toàn bộ "doanh thu trên hóa đơn", không phân biệt hóa đơn quyển hay lẻ và không được bù trừ chênh lệch, làm số thuế phải nộp tăng lên đáng kể.

3. Vì sao tác giả kết luận phương pháp tính thuế theo tỷ lệ doanh thu áp dụng từ năm 2015 mang lại lợi ích cho người có thu nhập cao nhưng gây bất lợi cho người thu nhập thấp? Vì quy định cũ cho phép trừ chi phí kinh doanh và giảm trừ gia cảnh (9 triệu đồng/tháng), giúp người kinh doanh nhỏ lẻ có doanh thu thấp (dưới 128 triệu đồng/tháng với thương mại, dưới 30 triệu đồng/tháng với dịch vụ) không phải nộp thuế. Quy định mới buộc cá nhân phải nộp thuế ngay khi doanh thu đạt 8,4 triệu đồng/tháng. Chỉ những người có doanh thu rất cao (trên 380 triệu đồng/tháng với ngành thương mại, trên 230 triệu đồng/tháng với sản xuất/vận tải) mới nộp thuế ít hơn so với biểu thuế lũy tiến từng phần trước đây.

4. Hiện tượng một số hộ kinh doanh "bán" hóa đơn cho doanh nghiệp trước năm 2016 xuất phát từ nguyên nhân nào? Do công tác quản lý thuế bằng phương pháp khoán không kiểm soát chặt chẽ đầu vào và đầu ra thực tế, một số hộ kinh doanh nộp thuế khoán đã xuất bán hóa đơn cho các doanh nghiệp cần hợp thức hóa chi phí với mức "phí" 1,6%–2%. Doanh nghiệp mua hóa đơn để kê khai tăng chi phí đầu vào nhằm giảm số thuế TNDN phải nộp (vốn có thuế suất lên đến 20%).

5. Tác giả đề xuất phương án điều chỉnh ngưỡng doanh thu chịu thuế và cách tính thuế đối với cá nhân kinh doanh ra sao? Tác giả ủng hộ phương án nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế của cá nhân kinh doanh lên 150 triệu đồng/năm (tương đương 12,5 triệu đồng/tháng) để cân đối với mức giảm trừ gia cảnh của người làm công ăn lương. Đồng thời, tác giả kiến nghị chỉ thu thuế TNCN đối với phần doanh thu thực tế vượt trên 150 triệu đồng (ví dụ đạt 200 triệu đồng/năm thì doanh thu chịu thuế chỉ là 50 triệu đồng).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Mộng Điệp đã làm sáng tỏ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực định của pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Nghiên cứu đã chỉ ra những bất cập mang tính mâu thuẫn trong Luật số 71/2014/QH13 và Thông tư số 92/2015/TT-BTC, đặc biệt là sự vi phạm nguyên tắc công bằng thuế khóa khi xóa bỏ chế định giảm trừ chi phí và giảm trừ gia cảnh của hộ kinh doanh. Các kiến nghị nâng ngưỡng chịu thuế lên 150 triệu đồng/năm, tính thuế trên phần doanh thu vượt ngưỡng và hoàn thiện tỷ lệ thuế ngành nghề là những đề xuất có giá trị khoa học và giá trị thực tiễn cao cho tiến trình cải cách pháp luật thuế.