PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) là loại thuế trực thu điều tiết vào thu nhập thuộc sở hữu của cá nhân hình thành từ nhiều quan hệ xã hội khác nhau, có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thu nhập, bảo đảm sự công bằng xã hội, tạo lập và ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc. Thấy đƣợc tầm quan trọng đó, trong lộ trình cải cách hệ thống thuế TNCN bắt đầu từ Thuế lợi tức lƣơng bổng năm 1962 ở miền Nam Việt Nam và đƣợc cải cách năm 1972 mang bản chất là một khoản thuế thu nhập. Loại thuế này áp dụng đối với thể nhân là loại thuế tổng hợp của từng hộ gia đình bao gồm cả lợi tức doanh nghiệp và thuế lƣơng bổng đƣợc áp dụng trƣớc năm 1975.
Tiếp đến là Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao ngày 27/12/1990 có phạm vi áp dụng hẹp, đƣợc sửa đổi nhiều lần (cụ thể là 6 lần) vào các năm 1992, 1993, 1994, 1999, 2001 lần cuối cùng là 2004 và đƣợc thay thế bởi Luật Thuế TNCN 2007, sửa đổi 2012, gần đây nhất là sửa đổi năm 2014. Pháp luật thuế về TNCN ở Việt Nam đã và đang từng bƣớc xây dựng và hoàn thiện để phù hợp với tình hình kinh tế chính trị xã hội, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Trong các loại thu nhập chịu thuế TNCN hiện nay, thuế TNCN từ hoạt động kinh doanh (HĐKD) mặc dù chiếm tỷ lệ không lớn trên tổng thu do ngành thuế quản lý nhƣng đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo công bằng xã hội. Vậy nên chính sách thuế cần có sự chặt chẽ, hợp lý, phải đảm bảo tính công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các đối tƣợng nộp thuế và việc quản lý thuế phải có tính hiệu quả trong hành thu, chống thất thoát thuế, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc.
Tuy nhiên, để cân bằng đƣợc tính công bằng và quản lý thuế hiệu quả không phải là chuyện dễ dàng khi đối tƣợng là hộ gia đình, cá nhân kinh doanh, một chủ thể có số lƣợng đông đảo tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, phát sinh ngày càng nhiều, HĐKD không ổn định, loại hình kinh doanh ngày đa dạng, nhiều ngành nghề, ý thức chấp hành pháp luật của ngƣời nộp thuế chƣa cao và khó kiểm soát nguồn phát sinh thu nhập. Do vậy, nhà lập pháp cần cân nhắc, xem xét nhiều yếu tố để đƣa ra chính sách thuế phù hợp, tránh gây tác dụng tiêu cực cho nền kinh tế. Hiện nay quy định của pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ HĐKD đã có nhiều sự thay đổi nhƣng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và bất cập, đặc biệt là quay lại cách tính thuế từ doanh thu đã từng đƣợc bãi bỏ do sự lạc hậu. Tuy sự thay đổi về cách tính thuế và quản lý thuế đƣợc coi là đơn giản và dễ áp dụng hơn nhƣng vẫn còn nhiều quan điểm về tính công bằng cũng nhƣ cách kiểm soát đúng doanh thu và 1 một số vấn đề trong việc quản lý thuế.
Vì vậy, để đảm bảo tính hiệu quả, khả thi trong các quy định pháp luật thuế TNCN từ HĐKD khi áp dụng trên thực tế phù hợp với tình hình nƣớc ta hiện nay, phát huy vai trò của thuế TNCN, đảm bảo tính công bằng, nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh, tránh gây nên những tác động tiêu cực cho nền kinh tế đòi hỏi cần phải nghiên cứu, đánh giá, bám sát vào bản chất của thuế TNCN và tình hình thực tế. Qua đó đƣa ra những kiến nghị giúp nhà lập pháp có những sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật thuế TNCN cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của nƣớc ta hiện nay. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh” để nghiên cứu và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật. Tình hình nghiên cứu Tính đến thời điểm hiện tại thuế TNCN đã có nhiều lần sửa đổi để phù hợp với yêu cầu thực tiễn, phù hợp với tình hình đất nƣớc qua mỗi giai đoạn khác nhau.
Để hiểu rõ thêm cơ sở lý luận, quy định pháp định của thuế TNCN, đáp ứng đƣợc nhu cầu cấp bách trong việc hoàn thiện và phát triển pháp luật thuế TNCN, hiện đã có nhiều đề tài, công trình khoa học, bài viết trên các tạp chí, báo chuyên ngành. Theo tìm hiểu của tác giả, tại trƣờng Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu ở các phƣơng diện, khía cạnh khác nhau từ những vấn đề lý luận chung mang tính tổng quát đến việc phân tích, đánh giá chế định và quy định cụ thể ở cả cấp cử nhân và thạc sỹ, có thể kể đến nhƣ: Cấp cử nhân: “Pháp luật về giảm trừ gia cảnh trong thuế TNCN” của tác Lê Thị Thu Sang năm 2009; “Chế độ pháp lý về đăng ký, kê khai, nộp thuế TNCN” của tác giả Nguyễn Thành Luân năm 2011; “Pháp luật về thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công” của tác giả Đoàn Thị Xuân; “Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Phấn năm 2010; “Pháp luật về thuế TNCN đối với thu nhập từ đầu tư vốn” của tác giả Nguyễn Nhật Khanh năm 2014; “Áp dụng pháp luật trong giảm trừ gia cảnh trong thuế TNCN” của tác giả Nguyễn Võ Đại Minh năm 2015. Cấp thạc sỹ: “Nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế TNCN” của tác giả Phan Phƣơng Nam năm 2006; “Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn” của tác giả Phan Thị Hƣơng Vũ năm 2015;“Quy định pháp luật về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh” của tác giả Trần Xuân Đài năm 2015. 2 Và rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí, báo chuyên ngành nhƣ tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tạp chí Luật học, Kinh tế và dự báo, tạp chí Khoa học pháp lý hay tạp chí Thuế Nhà nƣớc: “Thực trạng pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay và hướng hoàn thiện” của Trần Vũ Hoài năm 2007, tạp chí Luật học; “Vận dụng nguyên tắc công bằng trong ban hành thuế TNCN” năm 2007 của tác giả Nguyễn Thị Thủy, Phan Phƣơng Nam trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp; “Quản lý thuế TNCN quá phức tạp” của Trần Xuân Thắng năm 2011 trên tạp chí Thuế Nhà nƣớc; “Những bất cập từ Luật Thuế TNCN” năm 2015 của tác giả Hà Thị Thúy Vân trên tạp chí Kính tế và dự báo; “Thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh: Chính sách đơn giản dễ thực hiện thì khó công bằng” tạp chí Thuế Nhà Nƣớc năm 2015 của Trung Kiên.
Qua các đề tài nghiên cứu trên, dƣới những góc độ khác nhau, các tác giả đã nghiên cứu từ khái quát đến chi tiết nhiều khía cạnh trong thuế TNCN. Tuy nhiên cho đến hiện nay, theo tìm hiểu của tác giả chƣa có một đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về pháp luật thuế TNCN từ HĐKD. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cơ sở lý luận cơ bản về thuế TNCN từ thu nhập từ HĐKD, tìm hiểu, phân tích các nội dung các quy định trong luật thuế TNCN và các văn bản có liên quan về đối tƣợng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập miễn thuế, căn cứ tính thuế, quản lý thuế (đăng ký, kê khai, nộp, quyết toán thuế…) đồng thời tìm ra những khó khăn, bất cập của quy định pháp luật và việc áp dụng pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ HĐKD trên thực tế và đƣa ra đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ HĐKD. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, tác giả sẽ tập trung phân tích những vấn đề lý luận chung về thu nhập từ HĐKD, các quy định về thuế TNCN đối với HĐKD đƣợc quy định tại các văn bản pháp luật có liên quan.
Ngoài ra, khóa luận còn nghiên cứu quy định về pháp luật thuế TNCN của một số nƣớc trên thế giới để rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện các quy định về pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam. Đề tài cũng tham khảo các quan điểm khoa học có liên quan đến pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ HĐKD của các học giả đƣợc đề cập trong các đề tài nghiên cứu cấp cử nhân và thạc sỹ, các bài báo, bài viết tạp chí chuyên ngành. 3 Về mặt quản lý thuế, tác giả tiến hành nghiên cứu các quy định về quản lý thuế TNCN đối với thu nhập từ HĐKD nhƣng chỉ ở một số mặt nhƣ đăng ký và cấp mã số thuế, khai thuế, nộp thuế của đối tƣợng nộp thuế TNCN từ HĐKD. Phƣơng pháp tiến hành nghiên cứu Đề tài đƣợc nghiên cứu trên cơ sở sử dụng các phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx – Lênin là cơ sở cho toàn bộ công trình nghiên cứu.
Ngoài ra tác giả còn kết hợp các phƣơng pháp trình bày, phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp nhằm làm rõ các qui định của pháp luật thuế TNCN từ HĐKD từ đó có những đánh giá, kết luận một cách toàn diện, hệ thống và đƣa ra những kiến nghị có cơ sở khoa học và mang tính ứng dụng cao. Bố cục tổng quát của khóa luận Khóa luận gồm 2 chƣơng: Chƣơng 1: Khái quát pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh. Chƣơng 2: Một số bất cập, hạn chế về quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân từ hoạt động kinh doanh và một số kiến nghị hoàn thiện. 4 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TỪ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.1 Những vấn đề lý luận chung về thu nhập từ hoạt động kinh doanh 1.1 Khái niệm thu nhập từ hoạt động kinh doanh Để hiểu rõ khái niệm thu nhập từ HĐKD, tác giả sẽ làm rõ định nghĩa từng bộ phận cấu thành nên khái niệm.
Bao gồm: Thu nhập và HĐKD. “Thu nhập” đƣợc định nghĩa là tổng các giá trị tài sản và của cải đƣợc biểu hiện dƣới hình thức tiền tệ mà một cá nhân nào đó nhận đƣợc từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tƣ thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời gian nhất định (thƣờng là một năm)1.