CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỘNG DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN 1. Khái niệm và phân loại thẻ thanh toán tại các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm thẻ Ngân hàng Quá trình trao đổi sản phẩm là một trong bốn giai đoạn của quá trình sản xuất trong nền kinh tế.
Cùng với sự phát triển của các nền kinh tế, việc trao đổi hàng hóa cũng có bước tiến từ trao đổi hàng - hàng sang trao đổi tiền - hàng. Trong quá trình đó, sự lưu thông tiền tệ luôn gắn liền với lưu thông hàng hóa. Khi nền kinh tế ở trình độ thấp, thanh toán các giao dịch kinh doanh thường sử dụng hàng hoặc tiền. Sau đó, khi kinh tế phát triển ở trình độ cao hơn, khối lượng sản phẩm tạo ra tăng lên rõ rệt, cung đã vượt cầu nội địa, việc trao đổi hàng hóa được mở rộng ra phạm vi các nước xung quanh và phạm vi quốc tế.
Lúc này, tiền mặt đã xuất hiện một số điểm hạn chế như tốn kém chi phí cho việc in ấn, vận chuyển lưu thông, bảo quản, kiểm tra kiểm soát.và cũng không đáp ứng được nhu cầu thanh toán cho các giao dịch giữa các chủ thể xa nhau về khoảng cách địa lý, không đủ an toàn cho việc thanh toán đó. Và như vậy, cùng với sự giao lưu kinh tế trên thế giới, nhu cầu về một hình thức mới cho việc thanh toán trong các giao dịch kinh tế trong nội địa cũng như trên quốc tế ngày càng cần thiết hơn. Thanh toán không dùng tiền mặt dựa trên nhu cầu đó đã ra đời. Thanh toán không dùng tiền mặt là sự lưu thông của tiền tệ với chức năng là phương tiện thanh toán trong các quan hệ kinh tế bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác hoặc bù trừ lẫn nhau với vai trò 4 trung gian của ngân hàng.
Do đó, thanh toán không dùng tiền mặt là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế. Lịch sử ngân hàng đã chứng kiến sự xuất hiện của nhiều hình thái tiền tệ, từ vỏ sò, thuốc lá đến các kim loại quý và tiền giấy để làm phuơng tiện luu thông. Những hình thái này phảt triển cùng với sự tiến bộ của con nguời, con nguời càng văn minh bao nhiêu thì những hình thái này càng đa dạng về hình thức và chủng loại bấy nhiêu. Thẻ Ngân hàng đuợc coi là hình thức thanh toán hiện đại nhất thế giới hiện nay, gắn liền với việc ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào ngành ngân hàng Thẻ Ngân hàng đã có lịch sử hình thành và nguời bán là trung tâm của Công nghiệp thẻ Nân hàng.
Lịch sử thẻ ngân hang bắt đầu khi một số nhà kinh doanh muốn mở rộng tín dụng đến khách hàng của họ bằng cách cho phép khách hàng của họ đuợc phép ghi nợ vào tài khoản. Rất nhiều nhà kinh doanh nhỏ muốn áp dụng dịch vụ này và nhận biết họ không đủ năng lực để cung cấp tín dụng cho khách hàng của họ, đây chính là một cơ hội Hình thức thẻ ngân hàng đầu tiên là Charg-it, một hệ thống tín dụng đuợc phát triển bởi John Biggins vào nằm 1946, cho phép khách hàng mua hàng tại những nơi bán lẻ. Các nhà kinh doanh ký quỹ tại ngân hàng Biggins và ngân hàng thu tiền thanh toán từ phía khách hàng và trả cho nhà kinh doanh. Hệ thống này đã chuẩn bị cho thẻ tín dụng đầu tiên luu hành vào năm 1951 tại New York do ngân hàng Franklin phát hành.
Sau đó, rất nhiều các tổ chức tài chính đã tham gia vào hệ thống thẻ ngân hàng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của văn minh nhân loại cũng nhu sự phát triển vũ bão của những ứng dụng khoa học kỹ thuật, thẻ ngân hàng đã khẳng định đuợc tính uu việt của mình, ngày càng thu hút sự chú ý nghiên cứu ứng dụng của nhiều nuớc trên thế giới. 5 Hiện nay trên thế giới có một số thương hiệu thẻ nổi tiếng như Visa, Master Card, American Express (1958), Dinner Club (1950), JCB (1961) Một các khái quát nhất, thẻ Ngân hàng có thể được định nghĩa là một phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản dược các bên thoả thuận. Người chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để chuyển khoản, rút tiền mặt tại các ngân hàng hoặc tại máy giao dịch tự động (ATM) hoặc dùng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ.
Phân loại thẻ thanh toán tại các NHTM Có nhiều cách phân loại thẻ ngân hàng khác nhau nhưng cách phân chia phổ biến nhất là cách phân chia theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ, theo nguồn tài chính dảm bảo cho việc sử dụng thẻ và theo đặc tính kỹ thuật của thẻ như sau: Theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ Thẻ nội địa: là thẻ được tổ chức phát hành thẻ trong nước phát hành để giao dịch trong phạm vi lãnh thổ nước đó, đồng tiền sử dụng trong các giao dịch thẻ nội địa là đồng nội tệ. Thẻ quốc tế: là thẻ được tổ chức phát hành thẻ trong nước phát hành để giao dịch trong và ngoài lãnh thổ nước đó, hoặc là thẻ được tổ chức nước ngoài phát hành và giao dịch trong phạm vị lãnh thổ nước đó. Theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ Thẻ ghi nợ (Debit card): là thẻ cho phép chủ thẻ được thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một số tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn. Thẻ tín dụng (Credit card): là thẻ cho phép chủ thể thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ.
6 Thẻ trả trước (Prepaid card): là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Thẻ trả trước bao gồm: thẻ trả trước xác định danh tính (thẻ trả trước định danh) và thẻ trả trước không xác định danh tính (thẻ trả trước vô danh). Theo đặc tính kỹ thuật Thẻ từ (Magnetic Stripe): là thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với một băng từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Loại thẻ này được sử dụng phổ biến từ 20 năm nay, tuy thế, nó lại có một số nhược điểm sau: - Khả năng bị lợi dụng cao do thông tin ghi trong thẻ không tự mã hoá được, kẻ gian có thể dễ dàng đọc thông tin bằng các thiết bị đọc gắn với máy vi tính.
- Thẻ mang tính thông tin cố định, khu vực chứa thông tin hẹp, không áp dụng kỹ thuật mã đảm bảo an toàn. Vì vậy, trong những năm gần đây loại thẻ này đã bị lợi dụng để lấy cắp tiền Thẻ thông mình (Smart Card): là loại thẻ có bộ vi xử lý điện tử. Thẻ thông minh an toàn và hiệu quả hơn thẻ từ do bộ vi xử lý điện tử có thể chứa thông tin nhiều hơn 80 lần so với dãy băng từ. Hoạt động thanh toán thẻ tại Ngân hàng thương mại 1.
Các chủ thể tham gia hoạt động thanh toán thẻ Chủ thẻ (Cardholder) Chủ thẻ là cá nhân, tổ chức được tổ chức phát hành thẻ cung cấp thẻ để sử dụng, bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ. Chủ thẻ chính: là cá nhân hoặc tổ chức đứng tên thoả thuận về việc sử dụng thẻ với tổ chức phát hành thẻ và có nghĩa vụ thực hiện thoả thuận đó. 7 Chủ thẻ phụ: là cá nhận được chủ thể chính cho phép sử dụng thẻ theo thoả thuận về việc sử dụng thẻ giữa chủ thẻ chính và tổ chức phát hành thẻ. Chủ thẻ chịu trách nhiệm về việc sử dụng thẻ với chủ thẻ chính.
Đơn vị chấp nhận thẻ (Merchant) Đơn vị chấp nhận thẻ (gọi tắt là ĐVCNT) là tổ chức, cá nhận chấp nhận thanh toán hàng hoá dịch vụ, cung cấp dịch vụ nạo, rút tiền mặt bằng thẻ. Để có thể tham gia thanh toán thẻ, ĐVCNT phải ký hợp đồng với ngân hàng thanh toán và phải có tài khoản thanh toán tại ngân hàng đó. Ngân hàng phát hành thẻ (Issuer) Ngân hàng phát hành thẻ (gọi tắt là NHPH) là ngân hàng được tổ chức thẻ quốc tế hoặc công ty thẻ trao quyền phát hành thẻ mang thương hiệu của tổ chức và công ty này. NHPH được quyền in tên ngân hàng mình trên thẻ để thể hiện đó là sản phẩm của mình và cần phải tuân theo những quy định do các tổ chức thẻ đặt ra.
NHPH tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở tài khoản và chịu trách nhiệm là người thanh toán trực tiếp với chủ thẻ trong các giao dịch thanh toán thẻ. Ngân hàng thanh toán thẻ (Acquirer) Ngân hàng thanh toán thẻ (gọi tắt là NHTT) là ngân hàng chấp nhận thẻ như một phương tiện thanh toán thông qua việc ký hợp đồng chấp nhận thẻ với các đơn vị cung cấp hàng hoá dịch vụ. Ngân hàng sẽ cung cấp các thiết bị phục vụ cho việc thanh toán thẻ và hướng dẫn cách vận hành, bảo dưỡng cũng như cách thức quản lý, xử lý những giao dịch thanh toán tại các đơn vị này. Đổi lại, trong mỗi giao dịch NHTT nhận được một khoản phí chiết khấu, mức phí này cao hay thấp phụ thuộc vào từng ngân hàng.
8 NHTT và NHPH đều phải thành viên của một tổ chức thẻ thì mới tham gia thanh toán thẻ được. Tổ chức thẻ Để hoạt động thanh toán thẻ được diễn ra thông suốt, cần phải có một tổ chức đứng ra làm trung gian truyền tải thông tin và giúp việc thanh toán giữa các ngân hàng. Có thể hệ thống lại những tổ chức thẻ như sau: Tổ chức thẻ quốc tế (gọi tắt là TCTQT) là đơn vị đứng đầu quản lý mọi hoạt động và thanh toán thẻ trong mạng lưới của mình. Đây là hiệp hội các tổ chức tài chính tín dụng lớn có mạng lưới hoạt động rộng khắp.
Các ngân hàng là thành viên của những tổ chức này phải trả phí thành viên và các loại phí liên quan tới dịch vụ xử lý giao dịch thẻ, đồng thời phải tuân thủ những quy định do tổ chức đặt ra. Hiện nay, trên thế giới có một số TCTQT có quy mô lớn như Visa, Master Card, American, JCB, Diners Club.