phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 3 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1. Tổng quan về kinh doanh dịch vụ thẻ của các ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2. Thực trạng phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ tại Sacombank - CN Bình Phƣớc Chƣơng 3. Giải pháp phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ tại Sacombank - CN Bình Phƣớc download by : skknchat@gmail.com 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan về phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ ngân hàng 1. Tổng quan về thẻ ngân hàng - Khái niệm thẻ ngân hàng: Thẻ ngân hàng là một phƣơng thức thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng phát hành cho khách hàng, theo đó ngƣời sử dụng thẻ có thể dùng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ tại các ĐVCNT hay rút tiền mặt hoặc sử dụng thẻ làm công cụ thực hiện các dịch vụ tự động do ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp. - Đặc điểm cấu tạo của thẻ: Thẻ ngân hàng thông thƣờng đƣợc thiết kế là một miếng nhựa (plastic) có kích thƣớc tiêu chuẩn (thƣờng là 8,5cm * 5,5cm * 0,07cm) và có một băng từ ở mặt sau, cũng có thể có chíp điện tử để lƣu trữ các thông tin, dữ liệu khác. + Mặt trƣớc của thẻ gồm: Nhãn hiệu thƣơng mại của thẻ, Tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ, Số thẻ, ngày hiệu lực của thẻ, tên chủ thẻ đƣợc in nổi.
+ Mặt sau thẻ gồm: Dải băng từ chứa các thông tin đã đƣợc mã hoá lƣu trữ thông tin về chủ thẻ, cũng có thể có chíp điện tử để lƣu trữ các thông tin, dữ liệu khác; Ô chữ ký dành cho chủ thẻ. Ngoài ra, trên thẻ còn có một số thông tin hữu ích khác nhƣ số điện thoại chăm sóc khách hàng, website của tổ chức phát hành thẻ để chủ thẻ có thể liên hệ trong các trƣờng hợp cần thiết. Hiện nay đã xuất hiện loại thẻ phi vật lý (thẻ ảo) mà tổ chức phát hành thẻ cấp cho chủ thẻ để giao dịch qua internet, điện thoại di động mà không cần in ra thẻ vật lý (thẻ nhựa thông thƣờng). download by : skknchat@gmail.com 8 - Phân loại thẻ: Thị trƣờng thẻ hiện nay đang lƣu hành rất nhiều loại thẻ, theo từng tiêu thức khác nhau thẻ đƣợc chia thành nhiều loại.
Việc phân loại chỉ mang tính tƣơng đối, chủ yếu để thuận tiện cho công tác phân tích. Có thể phân loại thẻ ngân hàng dựa trên một số tiêu thức sau: + Theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ: thẻ nội địa và thẻ quốc tế. Việc phân loại thành thẻ nội địa hay thẻ quốc tế là dựa trên phạm vi chủ thẻ có thể sử dụng thẻ. Thẻ nội địa đƣợc sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và sử dụng các dịch vụ khác trong nƣớc.
Thẻ quốc tế đƣợc sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và sử dụng các dịch vụ ở cả trong nƣớc và ở nƣớc ngoài. + Theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ: thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trƣớc. Thẻ ghi nợ (debit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán đƣợc phép nhận tiền gửi không kỳ hạn. Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã đƣợc cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ.
Thẻ trả trƣớc (prepaid card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền đƣợc nạp vào thẻ tƣơng ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trƣớc cho tổ chức phát hành thẻ. Tổng quan về phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ ngân hàng - Khái niệm dịch vụ ngân hàng: Dịch vụ ngân hàng đƣợc hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản… và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. download by : skknchat@gmail.com 9 - Khái niệm dịch vụ thẻ ngân hàng: Dịch vụ thẻ ngân hàng là các dịch vụ ngân hàng đƣợc thực hiện thông qua thẻ ngân hàng, dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa, qua đó cung cấp các dịch vụ ngân hàng đến khách hàng. - Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ ngân hàng: + Sự đa dạng về sản phẩm thẻ và tiện ích của dịch vụ thẻ: Đây là chỉ tiêu thể hiện mức độ đáp ứng các nhu cầu của khách hàng đang ngày càng trở nên đa dạng.
Sản phẩm thẻ càng đa dạng, đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của khách hàng thì số lƣợng thẻ đƣợc phát hành ngày càng nhiều, điều đó làm gia tăng thị phần của ngân hàng. Việc tăng tính đa dạng cho sản phẩm thẻ sẽ tác động trực tiếp lên số lƣợng thẻ ngân hàng phát hành từ đó giúp cho dịch vụ thẻ của ngân hàng ngày càng phát triển. + Số lƣợng thẻ phát hành và số lƣợng khách hàng sử dụng thẻ: Số lƣợng khách hàng sử dụng thẻ và số lƣợng thẻ phát hành không phải là một. Trong xu thế hiện nay, một khách hàng có thể sử dụng nhiều loại thẻ cùng lúc, trong đó có những loại thẻ đƣợc sử dụng với tần suất nhiều hơn (có thể coi là thẻ “chính”), với các loại thẻ này, ngân hàng sẽ có thu nhập lớn hơn.
Nhƣ vậy, mục tiêu của ngân hàng không chỉ gia tăng số lƣợng khách hàng sử dụng thẻ và thanh toán bằng thẻ, mà còn làm thế nào để cho thẻ mà ngân hàng mình phát hành, đƣợc sử dụng nhƣ là những thẻ “chính” của khách hàng. Số lƣợng thẻ phát hành và số lƣợng khách hàng sử dụng thẻ gia tăng làm cho thu nhập của ngân hàng càng cao và ngƣợc lại. Chính vì vậy, việc gia tăng số lƣợng thẻ, gia tăng khách hàng, sự trung thành của khách hàng trong việc sử dụng thẻ của ngân hàng là một trong các tiêu chí quan trọng mà ngân hàng nào cũng hƣớng tới. + Số lƣợng thẻ hoạt động trên tổng số lƣợng thẻ phát hành: Con số thẻ đƣợc phát hành không đồng nghĩa với việc chừng đó thẻ đang lƣu hành trong đời sống ngƣời dân.
Có thể hiểu thẻ không hoạt động là những thẻ đã đƣợc phát hành nhƣng không phát sinh giao dịch hoặc trong tài khoản chỉ có số dƣ đủ ở mức tối thiểu để duy trì thẻ. Thẻ không hoạt động gây lãng phí tài nguyên của ngân hàng, tốn kém chi phí marketing, phát hành, chi phí quản lý hoạt động kinh doanh thẻ đối với ngân download by : skknchat@gmail. Do đó, tỷ lệ thẻ hoạt động cùng là một trong các tiêu chí để đánh giá hiệu quả kinh doanh thẻ của các ngân hàng. + Số dƣ tiền gửi trên tài khoản thẻ của khách hàng: Số dƣ tiền gửi trên tài khoản thẻ là số tiền mà chủ thẻ ký thác tại ngân hàng để đảm bảo thực hiện thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ.
Ngân hàng có thể sử dụng vào các hoạt động kinh doanh và đảm bảo thanh toán đối với số tiền này. Có thể xem đây là nguồn vốn kinh doanh ngân hàng có thể tận dụng mà không phải chi trả lãi suất. Sô dƣ tiền tài khoản thanh toán càng lớn ngân hàng càng có khả năng mở rộng thêm các hoạt động kinh doanh mang lại thu nhập cao hơn cho ngân hàng. + Doanh số thanh toán thẻ: Doanh số thanh toán thẻ là tổng giá trị các giao dịch đƣợc thanh toán bằng thẻ tại các điểm chấp nhận thẻ và số lƣợng tiền mặt đƣợc ứng tại các điểm rút tiền mặt.
Doanh số này càng cao chứng tỏ số lƣợng khách hàng đặt niềm tin vào dịch vụ thanh toán thẻ và tính tiện ích cùng nhƣ sự an toàn của nó. Thông qua đó các chủ thể cung cấp dịch vụ này trong đó có các ngân hàng thƣơng mại sẽ có thu nhập lớn hơn. + Thu nhập từ hoạt động cung cấp dịch vụ thẻ: Xét cho cùng, ngân hàng cung cấp dịch vụ thẻ với mục đích gia tăng thu nhập, gia tăng số lƣợng dịch vụ để giảm rủi ro và nâng cao khả năng cạnh tranh cho ngân hàng. Thu nhập từ dịch vụ thẻ càng cao, chứng tỏ vị thế ngân hàng đó đƣợc khẳng định, có năng lực cạnh tranh về các dịch vụ khác với các ngân hàng trên cùng địa bàn.
Sự hình thành và phát triển của kinh doanh dịch vụ thẻ ngân hàng 1. Sự hình thành và phát triển của kinh doanh dịch vụ thẻ ngân hàng trên thế giới Thẻ đƣợc ra đời tại Mỹ từ những năm đầu của thế kỷ 20 xuất phát từ thói quen cho khách hàng mua chịu của các chủ tiệm bán lẻ dựa trên uy tín của khách đối với các tiệm này. Thông thƣờng, các chủ tiệm theo dõi mỗi khách hàng riêng rẽ, ghi rõ các khoản khách hàng sẽ phải thanh toán và chấp nhận cho khách hàng trả tiền sau vì họ tin vào khả năng thanh toán của ngƣời mua. Tuy nhiên, dần dần, download by : skknchat@gmail.com 11 nhiều ngƣời trong các chủ tiệm bán hàng hoá dịch vụ nhận thấy, họ không có đủ khả năng cho khách hàng nợ và trả sau nhƣ vậy.
Chính yếu tố này đã góp phần giúp các tổ chức tài chính hình thành ý tƣởng về sản phẩm thẻ. Năm 1914, tổ chức chuyển tiền Western Union của Mỹ lần đầu tiên cung cấp cho khách hàng đặc biệt của mình dịch vụ thanh toán trả chậm, công ty này phát hành những tấm kim loại có chứa các thông tin in nổi nhằm nhận diện, phân biệt khách hàng, cập nhật thông tin tài khoản, giao dịch thực hiện của khách hàng. Các tổ chức khác dần nhận ra những giá trị của loại hình dịch vụ nói trên của Western Union và chỉ trong vài năm sau đó, rất nhiều đơn vị nhƣ nhà ga, khách sạn cũng nhƣ các cửa hàng trên khắp nƣớc Mỹ đã lựa chọn cung cấp dịch vụ trả chậm cho khách hàng theo phƣơng thức của Western Union. Trong đó, tập đoàn xăng dầu General Petroleum của Mỹ cho ra đời tấm thẻ mua xăng đầu tiên vào năm 1924, cho phép ngƣời dân sử dụng thẻ này để mua xăng, dầu tại các cửa hàng trên toàn quốc.
Thẻ thanh toán chỉ thực sự ra đời từ những năm cuối 1940 và đầu những năm 1950 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ.