mở đầu yếu cho là cho thanh vaykhôngThanh toán dùng toán bằng tiền mặt. thanh toán sản xuất kinh doanh, L/C hoặc nhờ thu Các dịch vụ khác: ngân hàng ngoài các dịch vụ trên còn phát triển các dịch vụ bảo lãnh khác như dịch vụ tư vấn tài chính (giải đáp thắc mắc và đưa ra lời khuyên cho khách hàng), ủy thác, dịch vụ ngân hàng tiện ích, vv. Phân loại theo nhóm khách hàng Thực tế cho thấy các khách hàng trên thị trường ngân hàng không đồng nhất về nhu cầu dịch vụ. Khách hàng của thị trường ngân hàng được phân thành 2 nhóm chính như sau: Khách hàng cá nhân: bao gồm nhóm khách hàng là cá nhân, hộ gia đình Khách hàng tỗ chức: bao gồm nhóm khách hàng là công ty, doanh nghiệp Cách phân chia này giúp các ngân hàng quản lý, đưa ra chính sách bán hàng phù hợp từ đó phát triển dịch vụ cho từng nhóm khách hàng tốt hơn.
Việc phân loại dịch vụ ngân hàng theo hai tiêu thức trên cũng mang tính chất tương đối. Trong thực t2ế, ngân hàng thường kết hợp giữa phân loại theo nhóm khách hàng và đặc trưng sản phẩm dịch vụ trong cùng ma trận, gọi là ma trận khách hàng - dịch vụ(1): 1. Ngân hàng thương mại, Nxb Học viện Ngân hàng, Tr. 20 10 Mỗi ô của ma trận được xem là một đoạn thị trường với các đặc tính cụ thể về dịch vụ và khách hàng.
Bên cạnh đó, sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng hiện đại đang là một xu thế tất yếu, đó không phải là sự phủ định các dịch vụ truyền thống mà là sự kết hợp để hoàn thiện danh mục dịch vụ của ngân hàng. Phân loại theo mốc phát triển của các dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng truyền thống: là những dịch vụ đã được thực hiện trong nhiều năm, trên nền công nghiệp cũ, quen thuộc với khách hàng, thuộc giai đoạn cuối cùng trong vòng đời của một sản phẩm, dịch vụ. Ví dụ: nhận tiền gửi, cho vay, chiết khấu thương phiếu, trao đổi ngoại tệ, bảo quản tài sản, tài trợ cho các hoạt động của chính phủ, dịch vụ ủy thác, vv. Dịch vụ ngân hàng hiện đại:ỉà dịch vụ mới được triển khai trong hoạt động của ngân hàng, sử dụng công nghệ mới và đem lại tiện ích cho khách hàng.
Ví dụ: sản phẩm thẻ, ngân hàng điện tử, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chăm sóc khách hàng, vv. Dịch vụ ngân hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng cá nhân Dịch vụ ngân hàng cá nhân hay dịch vụ khách hàng cá nhân của NHTM là toàn bộ các dịch vụ và sản phẩm được cung ứng tới từng cá nhân, hộ gia đình thông qua mạng lưới các kênh phân phối đa dạng và hiệu quả. Hiện nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, dịch vụ ngân hàng cá nhân cho phép cung ứng sản phẩm, dịch vụ tới tận tay người tiêu dùng.
Khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp thông qua các phương tiện điện tử viễn thông mọi lúc, mọi nơi. Ngoài ra, một khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng cá nhân có thể đồng thời sử dụng dịch vụ truyền thống và dịch vụ hiện đại. Chẳng hạn như khách hàng có thể vay vốn bằng thẻ tín dụng, thấu chi tài khoản, trả lương qua tài khoản thanh toán thay vì nhận tiền mặt, tự động trích tài khoản gửi tiết kiệm hàng tháng, thanh toán hóa đơn tiền 11 điện nước qua tài khoản ngân hàng, vv. thông qua mạng internet, điện thoại di động được sử dụng trên phạm vi toàn cầu.
Dịch vụ ngân hàng cá nhân cũng có những đặc điểm chung của dịch vụ ngân hàng như tính vô hình, tính không thể tách biệt, tính không lưu trữ được, vv. Tuy nhiên nó có những đặc điểm riêng về đối tượng khách hàng và các loại hình dịch vụ cung ứng, hồ sơ cần cung cấp, khả năng đem lại nguồn thu nhập bền vững và ổn định cho ngân hàng. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng cá nhân ❖ Số lượng khách hàng lớn Đối tượng của dịch vụ ngân hàng cá nhân của NHTM là cá nhân và hộ gia đình. Đây là phân khúc thị trường đầy tiềm năng do khối lượng khách hàng ngày càng đông và nhu cầu thì ngày càng cao nhờ sự hiện đại hóa đời sống và mức sống của người dân ngày càng đi lên.
Đứng trước dân số Việt Nam đang đạt ngưỡng 90 triệu dân cùng tốc độ đô thị hóa cao thì thị trường dịch vụ ngân hàng cá nhân rất có tiềm năng phát triển. ❖ Quy mô giao dịch nhỏ Đối tượng của dịch vụ ngân hàng cá nhân là cá nhân và hộ gia đình nên giá trị mỗi lần giao dịch thường không lớn. Bên cạnh đó, nhu cầu của họ thường không có tính lặp lại, chẳng hạn như họ thường chỉ mua 1 căn nhà nên sẽ vay ngân hàng một lần để mua nhà chứ không thường xuyên có nhu cầu vay tài trợ vốn lưu động như khách hàng doanh nghiệp. Chính vì vậy, muốn phát triển dịch vụ ngân hàng cá nhân ngoài việc tăng trưởng về mặt số lượng khách hàng các ngân hàng cần tập trung xây dựng một hệ thống dịch vụ có tính tích hợp cao, kết hợp cung ứng nhiều sản phẩm cho một khách hàng.
❖ Sản phẩm phong phú và đa dạng Khách hàng cá nhân có sự đa dạng về giới tính, độ tuổi, thu nhập, đặc tính vùng miền, vv. nên để phục vụ cho nhóm khách hàng này đòi hỏi các ngân hàng cần cung ứng các sản phẩm, dịch vụ đa dạng và phong phú nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của họ. Nắm bắt được đặc điểm này là cơ hội để các ngân hàng phát triển các dịch vụ truyền 12 thống song hành với các dịch vụ mới hiện đại, tăng sức cạnh tranh trên thị trường tài chính đang diễn ra ngày càng gay gắt. ❖ Dưa trên nền tảng công nghệ thông tin Công nghệ thông tin đang giữ vai trò then chốt trong sự phát triển của mọi ngành nghề kinh tế, trong đó ngành ngân hàng cũng không ngoại lệ.
Ngân hàng nào có hệ thống công nghệ thông tin phát triển, biết ứng dụng tốt công nghệ trong hoạt động của mình thì ngân hàng đó càng có cơ hội tăng trưởng kinh doanh dịch vụ ngân hàng cá nhân. Một khách hàng sẽ luôn lựa chọn dịch vụ được phục vụ nhanh hơn, tiện ích, chính xác và an toàn hơn thay vì sử dụng dịch vụ thường xuyên gặp lỗi sự cố, bất tiện trong quá trình sử dụng. Do đó, tốc độ và độ chính xác khi xử lý các giao dịch, sự tiện ích của sản phẩm, mức độ bảo mật thông tin, vv. là những yếu tố quan trọng trong phát triển sản phẩm ngân hàng hiện nay.
Ngoài ra, hệ thống công nghệ hiện đại cũng giúp các ngân hàng thực hiện lưu trữ và xử lý số liệu tập trung, từ đó có thể triển khai mô hình tập trung hóa hoạt động vận hành, xử lý các giao dịch có tính chất phân tán như hỗ trợ tín dụng, thanh toán trong và ngoài nước, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao năng lực quản trị. ❖ Marketing ngày càng giữ vai trò quan trọng Thực tế cho thấy khả năng tiếp cận các loại hình sản phẩm dịch vụ ngân hàng của cá nhân, hộ gia đình còn thấp. Vì vậy, muốn sản phẩm đến được tay khách hàng, khách hàng hiểu và sử dụng sản phẩm thì hoạt động quảng bá, tiếp thị và chăm sóc sau bán hàng là vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển dịch vụ ngân hàng cá nhân hiện nay. ❖ Tính tăng trưởng ổn định và bền vững Nguồn vốn huy động từ khách hàng cá nhân thường không lớn, nhưng với số lượng khách hàng đông đảo vẫn tạo ra nguồn vốn đáng kể cho ngân hàng, đồng thời nguồn vốn này có tính ổn định và bền vững.
Khi hoat động của thị trường ngân hàng ổn định, mức lãi suất đảm bảo tính hấp dẫn thì đa phần khách hàng lựa chọn gửi tiết kiệm là 13 kinh đầu tư chủ yếu, vì vậy nguồn vốn huy động thường được đảm bảo. Đối với sản phẩm cho vay tiêu dùng thì hầu hết giá trị khoản vay thường nhỏ, phân tán nhưng ngân hàng thu được mức phí và lãi suất chênh lệch cao. Phân loại dịch vụ ngân hàng cá nhân 1. Dịch vụ tiền gửi Tiền gửi là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, trong đó tiền gửi cá nhân là thành phần chủ đạo trong nguồn vốn huy động.
Theo đà tăng trưởng của nền kinh tế, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, thu nhập bằng tiền có xu hướng tăng lên, nhu cầu chi tiêu cũng đa dạng, phong phú. Thích ứng với xu thế phát triển đó, các ngân hàng đã phát triển nhiều loại hình dịch vụ tiền gửi. Mỗi sản phẩm tiền gửi đều có đặc điểm riêng phù hợp với nhu cầu khách hàng thuộc mọi tầng lớp dân cư, mọi lứa tuổi, nghề nghiệp. a) Tiền gửi thanh toán Tiền gửi thanh toán được gửi vào ngân hàng nhằm phục vụ nhu cầu thanh toán, chi trả của khách hàng.
Tiền gửi thanh toán có thể gửi và rút ra bất kỳ lúc nào trong phạm vi số dư tài khoản và dùng để chi trả thường xuyên hoặc định kỳ, vì vậy còn được gọi là tiền gửi theo nhu cầu (Demand deposits). Khi gửi tiền thanh toán, lãi suất không phải là mục tiêu chính của người gửi mà điều họ quan tâm là được sử dụng các công cụ thanh toán đi kèm thuận tiện và linh hoạt nhất. Với tính chất linh hoạt của số dư và người gửi tiền được hưởng các tiện ích thanh toán như vậy nên tiền gửi thanh toán thường không được ngân hàng trả lãi hoặc được trả với lãi suất thấp. Để khuyến khích việc mở tài khoản tiền gửi thanh toán và sử dụng các công cụ thanh toán, hoặc tùy chính sách trong từng thời kỳ mà ngân hàn miễn giảm một số loại phí cho khách hàng.
Có thể thấy, tiền gửi thanh toán là nguồn vốn rẻ mà các ngân hàng có thể sử dụng một phần để cho vay nên việc mở rộng thu hút nguồn tiền gửi này rất quan trọng. 14 Trong thực tế, tài khoản tiền gửi thanh toán có thể được sử dụng chung cho nhiều mục đích khác nhau: nhận tiền lương, thu nhập, chi trả tiền hàng hóa, dịch vụ, thanh toán sao kê thẻ tín dụng, trả lãi vay, vv. Chủ tài khoản cũng được phát hành séc, thẻ để rút tiền mặt, thanh toán chi trả tiền hàng hóa dịch vụ. b) Tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm là dịch vụ có tính truyền thống tiêu biểu trong hoạt động ngân hàng.