CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng của nền kinh tế. Ngân hàng là người đi vay để cho vay chủ yếu đối với hàng triệu người tiêu dùng bao gồm các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp và cả các cơ quan chính phủ.
Đồng thời ngân hàng cũng là trung gian thanh toán và cung cấp các dịch vụ cho các khách hàng của mình. Ngân hàng xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng hơn 2000 năm trước đây ở Hy Lạp với một mục đích là những người chuyên đổi tiền cho khách du lịch và chiết khấu thương phiếu giúp các nhà buôn có vốn kinh doanh. Các ngân hàng đầu tiên có thể dùng vốn tự có để tài trợ cho các hoạt động của họ trước khi có ý tưởng thu hút vốn tiền gửi và cho vay ngắn hạn đối với những nhà buôn và chủ tàu. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại.
Fitch, Dictionary of Banking Terms: Tổ chức ngân hàng, thường là một công ty, nhận tiền gửi, thực hiện cho vay, thanh toán sec, và thực hiện các dịch vụ liên quan cho công chúng. Khái niệm của Fed và cũng được nhiều nước sử dụng ngày nay: Ngân hàng là bất kỳ doanh nghiệp nào cung cấp khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách ký phát séc hay chuyển tiền điện tử) và cho vay thương mại hay cho vay kinh doanh khác (như cho vay các doanh nghiệp tư nhân để tăng hàng tồn kho hay mua thiết bị mới).Rose, Quản trị ngân hàng thương mại thì: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa 5 dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”[1, tr. Ở Việt Nam, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH 12 xác định: “ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [3, tr. Theo đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: - Nhận tiền gửi; - Cấp tín dụng; - Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Qua các khái niệm trên chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau: Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp vì nó có cơ cấu, tổ chức bộ máy, cấu trúc tài chính giống như một doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động của Ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu cuối cùng là lợi luận. Tuy nhiên, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt, bởi vì: - Lĩnh vực kinh doanh của Ngân hàng là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng. Đây là lĩnh vực rất nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến tất cả các nghành cũng như mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
- Chất liệu kinh doanh của Ngân hàng là tiền tệ - một công cụ được nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế và quyết định đến sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế nên được nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ. - Nguồn vốn chủ yếu Ngân hàng sử dụng là vốn từ bên ngoài. Tỷ trọng vốn riêng trong tổng nguồn vốn kinh doanh rất thấp. - Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương.
6 - Ngân hàng thương mại là một trung gian tín dụng, đóng vai trò một tổ chức trung gian huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi biến nguồn vốn đó để cấp tín dụng đáp ứng các nhu cầu vốn cho kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng của nền kinh tế. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại Là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt là tài chính tiền tệ, một lĩnh vực lớn chi phối toàn bộ nền kinh tế của một nước, một quốc gia nên hoạt động ngân hàng rất phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, về cơ bản Ngân hàng có các hoạt động chủ yếu sau: - Hoạt động huy động vốn: Huy động vốn là dịch vụ cơ bản, truyền thống, là dịch vụ giữ vai trò quan trọng cung cấp vốn đáp ứng phần lớn vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động dịch vụ huy động vốn, ngân hàng đứng ra đóng vai trò thu hút lượng vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua việc nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá.
- Hoạt động tín dụng: Là hoạt động dịch vụ mang lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng tức là giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận. Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. - Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu thanh toán giữ các chủ thể trong nền kinh tế ngày càng cao.
Trên cơ sở các công cụ thanh toán như: Séc, Uy nhiệm chi, Uy nhiệm thu, thẻ thanh toán. ngân hàng thực hiện các hoạt động dịch vụ thu hộ, chi hộ khách hàng. Đây là loại hình dịch vụ đang ngày 7 càng phát triển, rất ít rủi ro nhưng mang lại nguồn thu nhập khác nhiều hơn cho ngân hàng. Nhưng để phát triển loại hình dịch vụ này, ngân hàng cần chú trọng nhiều hơn đến đầu tư, ứng dụng khoa học, công nghệ vào hoạt động ngân hàng.
- Các hoạt động khác như: Góp vốn, mua cổ phần, kinh doanh vàng và ngoại hối, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng. Thông qua các dịch vụ trên, ngân hàng thu được phí dịch vụ, tăng tính đa dạng cho các nguồn thu nhập ngân hàng. DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Hiện nay có rất nhiểu khái niệm về “ Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ”, tuỳ theo cách tiếp cận và quan điểm mà có nhiều cách hiểu khác nhau về “ Dịch vụ NHBL”, như sau: Trước hết, trong cung cấp hàng hoá dịch vụ thì Bán lẻ nghĩa là cung cấp các sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng với số lượng nhỏ.
Nó khác với bán buôn là được cung cấp cho người trung gian với số lượng lớn. Áp dụng trong hoạt động ngân hàng, thì có thể kể đến các thuật ngữ NHBL của các chuyên gia kinh tế học của Học viện Công nghệ Châu Á- AIT, theo đó thì NHBL là việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến tay từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc là việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông. Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì dịch vụ NHBL là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng, nơi mà các khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại các chi nhánh hay phòng giao dịch của các ngân hàng để thực hiện các 8 dịch vụ như: Tiền gửi tiết kiệm, vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và một số dịch vụ khác đi kèm. Theo quan điểm của các NHTM thì: Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là những hoạt động giao dịch của ngân hàng với khách hàng là những cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Theo từ điển Ngân hàng và Tin học thì Retail banking là: Dịch vụ NHBL/ nghiệp vụ NHBL là dịch vụ ngân hàng dành cho quản đại quần chúng, thường là một nhóm các dịch vụ tài chính gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản cá nhân. Theo quan điểm của khách hàng thì dịch vụ NHBL là các dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng cá nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngược lại với Ngân hàng bán buôn là chuyên cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp lớn, tập đoàn kinh tế, các NHTM và các Tổ chức tài chính khác Mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau về Dịch vụ NHBL, nhưng có thể nhận thấy những điểm chung: Một là: Dịch vụ NHBL là những dịch vụ điển hình của một ngân hàng bao trùm tất cả các nghiệp vụ của các NHTM như: tiết kiệm, cho vay, thẻ, các dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử như: Mobile banking, Home banking. Hai là: Đối tuợng khách hàng chủ yếu mà NHBL phục vụ là các khách hàng cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên các dịch vụ thường mang tính giản đơn, dễ thực hiện và thường xuyên tạo điều kiện cho dịch vụ NHBL phát triển.
Ba là: Khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ NHBL thông qua các mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch hoặc thông qua các phương tiện thông tin, điện tử viễn thông như dịch vụ ngân hàng điện tử trực tuyến từ xa. 9 Như vậy, dịch vụ NHBL có thể hiểu một cách khái quát là: “Dịch vụ NHBL là dịch vụ ngân hàng được cung ứng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện thông tin, điện tử viễn thông”.2 Đặc điểm Trên cơ sở khái niệm về dịch vụ NHBL thì NHBL có các đặc điểm sau: - Đối tượng của NHBL là các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây chính là thành phần kinh tế chiếm số lượng lớn trong nền kinh tế. Sự đa dạng về nhu cầu, về phạm vi hoạt động, về thu nhập, về trình độ.chính là các yếu tố quyết định cho việc các sản phẩm dịch vụ bán lẻ được các đối tượng này chấp nhận và sử dụng.