CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1.1 Dịch vụ Dịch vụ hay lĩnh vực dịch vụ trong nền kinh tế được xác định theo nhiều khía cạnh khác nhau, chẳng hạn: Theo Noel Capon (2009), dịch vụ là bất kỳ hành động hay sự thực hiện nào mà một bên cung cấp cho bên khác tồn tại một cách vô hình và không nhất thiết đi đến một quan hệ sở hữu. Theo Philip Kotler thì: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia mà chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”.
Trong ISO8402, đưa ra quan niệm: dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa dịch vụ Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, dịch vụ là các hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Ở góc độ chung nhất về thống kê kinh tế, dịch vụ được coi là một lĩnh vực kinh tế không bao gồm các ngành nông nghiệp và công nghiệp Một cách chung nhất có thể hiểu, dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thể cung cấp cho bên kia (người mua) và chủ yếu là 2 vô hình không mang tính sở hữu.
Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất.2 Dịch vụ ngân hàng Theo GATS, dịch vụ ngân hàng được đặt trong nội hàm của dịch vụ tài chính. Với cách định nghĩa như vậy rất khó tách bạch đâu là dịch vụ ngân hàng thuần túy nên có nhiều người khắc phục bằng cách gọi hỗn hợp là dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm). Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam năm 2010 cũng chưa đưa ra một khái niệm cụ thể hoặc giải thích từ ngữ đối với khái niệm dịch vụ ngân hàng mà chỉ đề cập đến thuật ngữ “hoạt động ngân hàng” trong khoản 12, điều 4: “việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Tuy nhiên đâu là hoạt động kinh doanh tiền tệ và đâu là dịch vụ ngân hàng thì chưa có sự phân định rõ.
Đây là một trong những điểm bất cập của Luật các Tổ chức tín dụng của Việt Nam. Một cách chung nhất có thể hiểu “dịch vụ NH là bao hàm toàn bộ các hoạt động mà NH cung ứng cho khách hàng liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán. thông qua các kênh phân phối khác nhau nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu dịch vụ tài chính của khách hàng mà pháp luật cho phép”. hay “Dịch vụ NH là một bộ phận của dịch vụ tài chính, là các dịch vụ tài chính gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, được ngân hàng thực hiện nhằm tìm kiếm lợi nhuận, và chỉ có các ngân hàng với ưu thế của nó mới có thể cung cấp các dịch vụ này một cách tốt nhất cho khách hàng.
Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng 1. Tính vô hình Về bản chất, dịch vụ không có tính hữu hình về vật chất. Nhiều DVNH chứa đựng một số yếu tố hữu hình cho phép người ta dựa vào đó có thể phán đoán được dịch vụ như: Để đánh giá dịch vụ thẻ của một ngân hàng người ta có 3 thể dựa vào số lượng máy ATM của ngân hàng đó để đưa ra nhận định về dịch vụ thẻ của ngân hàng này. Đương nhiên, nếu chỉ dựa vào yếu tố duy nhất là số lượng máy ATM thôi chưa đủ nhưng đó cũng là một trong những cơ sở để khách hàng nhận định về chất lượng dịch vụ thẻ của ngân hàng.
Tính không thể tách rời Khác với hàng hóa có đặc điểm sản xuất tách rời tiêu dùng. Tính không tách rời hình thành từ việc dịch vụ đang được xử lý hoặc trải nghiệm. Do đó Dịch vụ NH trở thành một hành động xảy ra cùng lúc với sự hợp tác giữa người tiêu dùng và NHTM. Quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng thường được tiến hành theo quy trình nhất định như quy trình cho vay, quy trình thanh toán qua ngân hàng.
Điều này làm cho ngân hàng không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho, xuất kho mà sản phẩm được cung ứng trực tiếp cho khách hàng khi họ có nhu cầu. Tính không thể tách biệt của sản phẩm dịch vụ ngân hàng thể hiện ở tính kết hợp, liên kết chéo, nối tiếp của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng và các tiện ích đi cùng như tiền gửi, thanh toán, ngân quỹ, tư vấn. Tính không đồng nhất Đặc trưng về tính không đồng nhất trong sản xuất và tiêu dùng đã làm cho các dịch vụ trở nên không ổn định về chất lượng. Chất lượng các dịch vụ ngân hàng thường không đồng nhất về nhiều mặt như thời gian, không gian, kỹ thuật, tính thuận lợi, thái độ phục vụ, trình độ chuyên môn.
Vì mỗi lần thực hiện đều do các giao dịch viên khác nhau làm hoặc do cảm nhận chủ quan của khách hàng sau mỗi lần giao dịch. Mỗi khách hàng lại có sở thích, thói quen không giống nhau. nên họ có những yêu cầu, đánh giá về chất lượng dịch vụ khác nhau. Tính khó xác định Đặc trưng về tính không đồng nhất đã dẫn đến việc khó xác định chất lượng dịch vụ.
Ngoài ra, chất lượng DVNH còn được cấu thành từ nhiều yếu tố như uy tín, thương hiệu, quy mô hình ảnh, công nghệ của ngân hàng, và trình độ 4 cán bộ. Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng DVNH nhưng thường xuyên thay đổi nên DVNH khó có thể được xác định một cách chính xác. Dòng thông tin hai chiều Dịch vụ ngân hàng không đơn giản là sự mua sắm một lần rồi kết thúc mà liên quan đến một chuỗi các giao dịch hai chiều thường xuyên trong khoảng thời gian cụ thể. Kiểu tương tác như trên cung cấp cho các ngân hàng những thông tin quý giá về khách hàng liên quan đến sở thích, nhu cầu, yêu cầu của khách hàng.
để từ đó ngân hàng có những điều chỉnh thích hợp trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng. Tính đa dạng phong phú và không ngừng phát triên Hiện nay trên thế giới có trên 300 trăm loại dịch vụ ngân hàng khác nhau. Các NHTM đang cố gắng phát triển theo hướng kinh doanh đa năng chứ không chỉ đơn thuần thực hiện những nghiệp vụ truyền thống như trước kia. Với mỗi loại hình dịch vụ, các ngân hàng đều cố gắng đa dạng hóa các hình thức cung cấp.
Ngoài ra, nhiều dịch vụ ngân hàng ra đời và phát triển với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin. Không chỉ có các dịch vụ hiện đại mới sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại mà các dịch vụ truyền thống cũng đang được cải tiến với hàm lượng công nghệ thông tin cao. Các loại hình dịch vụ ngân hàng 1. Nhóm dịch vụ nhận tiền gửi và các loại quỹ có thể hoàn lại cho công chúng Vốn là chìa khoá của đầu tư và vì thế là chìa khoá cho sự tăng trưởng.
Việc cung cấp các nguồn tiết kiệm cho người có khả năng sử dụng chúng hiệu quả hơn sẽ tăng thu nhập cả của người tiết kiệm và người vay. Mặt khác sự suy giảm các nguồn vốn nước ngoài đã khuyến khích việc áp dụng các chính sách thúc đẩy tiết kiệm và đầu tư trong nước, định hướng nguồn lực vào các hoạt động có lợi. Các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng là nguồn vốn quan trọng trong hoạt động của NH. 5 Tuỳ theo mục đích khác nhau mà có các loại tiền gửi khác nhau.
Để thu hút luợng tiền gửi từ dân cu-nguồn vốn tuơng đối ổn định- các NHTM đã và đang áp dụng nhiều loại tiền gửi khác nhau nhu: + Theo thời gian có các loại tiền gửi: 1 tuần, hai tuần, 1 tháng, 2 tháng đến vài năm. + Theo mục đích gửi tiền: nhu tiết kiệm an sinh, tiết kiệm tích luỹ, tiết kiệm linh hoạt. + Theo đối tuợng gửi tiền: các NH đã nghiên cứu và chia khách hàng ra làm nhiều loại và với mỗi loại lại có một loại hình dịch vụ gửi tiền phù hợp. Chẳng hạn nhu ở Singapore các NH đã chia theo tiết kiệm dành cho quý bà và quý ông.
Với loại hình tiền gửi dành cho quý bà sẽ có các dịch vụ phù hợp kèm theo phù hợp với nữ giới. Nhóm các dịch vụ cho vay Tùy theo tính chất của khoản vay, thời hạn vay và đối tuợng vay mà có cách phân chia dịch vụ cho vay khác nhau. + Theo tính chất khoản vay: vay phục vụ sản xuất, tiêu dùng, thấu chi, cầm cố giấy tờ có giá, hỗ trợ du học. + Theo thời hạn vay: vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn + Theo đối tuợng khách hàng: cho vay doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình.
Các dịch vụ cho vay có tốc độ phát triển nhanh chóng là cho vay tiêu dùng. “Sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các NH phải huớng tới nguời tiêu dùng nhu một khách hàng trung thành tiềm năng. Dịch vụ cho vay của NH đáp ứng nhu cầu tài chính cho doanh nghiệp và cá nhân. “Hoạt động cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng truởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế” 1.
Nhóm dịch vụ cho thuê tài chính Cho thuê tài chính là một hoạt động cho vay trung, dài hạn của NH đối 6 với khách hàng thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị và các động sản khác. Dịch vụ này phát triển đầu tiên ở Mỹ vào cuối thế kỷ 18 với mục đích tài trợ cho ngành vận tải. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, loại hình dịch vụ này đã phát triển nhanh chóng tại các nuớc phát triển nhu Anh, Đức, Pháp, Nhật.