phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, bảng viết tắt, luận văn đƣợc kết cấu theo ba chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận về phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán của công ty chứng khoán. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán của công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán của công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Thị trƣờng chứng khoán trong xu thế hội nhập và cạnh tranh khốc liệt nhƣ hiện nay, việc phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán phải đƣợc quan tâm đặc biệt và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Trong quá trình nghiên cứu để đƣa ra giải pháp phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán tại công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam, tác giả đã tham khảo một số nghiên cứu cụ thể của các tác giả sau: - Đề tài: “Phát triển hoạt động môi giới chứng khoán của công ty cổ phần chứng khoán An Bình” (2011), tác giả Phan Thị Thanh Thủy, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, chuyên ngành tài chính - ngân hàng, Đại học Đà Nẵng. Đề tài đã hệ thống hóa lý luận về các chủ đề liên quan đến phát triển Luan van 4 dịch vụ môi giới chứng khoán. Đánh giá, phân tích thực trạng phát triển hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty cổ phần chứng khoán An Bình. Đề xuất một số giải pháp tiếp tục phát triển hoạt động môi giới chứng khoán tại công ty này.
- Đề tài: “Phát triển hoạt động môi giới chứng khoán của công ty cổ phần chứng khoán Rồng Việt” (2011), tác giả Nguyễn Thị Nhƣ Quỳnh, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, chuyên ngành tài chính - ngân hàng, Đại học Đà Nẵng. Đề tài đƣợc tác giả khái quát các lý luận cơ bản về công ty chứng khoán và hoạt động môi giới chứng khoán. Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển hoạt động môi giới chứng khoán và đề tài cũng đƣa ra đƣợc những giải pháp - đề xuất thiết thực liên quan đến hoạt động môi giới chứng khoán, nó rất cần thiết cho Ban Giám đốc các CTCK mà đặc biệt là UBCK Nhà Nƣớc để có cái nhìn tổng quan và hƣớng phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán trong những năm tiếp theo. - Đề tài: “Phát triển hoạt động môi giới chứng khoán của công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thƣơng Tín” (2012), tác giả Trƣơng Văn Trí, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, chuyên ngành tài chính - ngân hàng, Đại học Đà Nẵng.
Đề tài đã đƣa ra đƣợc tổng quan phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán, tình hình phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán của công ty cổ phần chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thƣơng Tín, đồng thời đƣa ra giải pháp phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán tại CTCK này. Với tổng quan tài liệu trên , các tác giả đã hệ thống tƣơng đối đầy đủ cơ sở lý luận về dịch vụ môi giới chứng khoán. Đối với phân tích, đánh giá thực tế: các tác giả khái quát đƣợc cơ bản tình hình hoạt động kinh doanh của CTCK và đề xuất đƣợc một số giải pháp hợp lý và mang tính thực tiễn cao. Tuy nhiên, các tác giả chƣa nêu rõ tầm quan trọng của việc kiểm soát rủi ro khi phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán.
Thực tế trong thời gian qua, Luan van 5 việc một số công ty chứng khoán chạy theo lợi nhuận và nhận thức về quản trị rủi ro còn hạn chế nên đã có nhiều công ty chứng khoán mất khả năng thanh khoản, hệ số an toàn tài chính không đảm bảo … khiến nhiều CTCK trên bờ vực phá sản. Vì vậy, luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu thực trạng việc phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán tại công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam và kế thừa những nghiên cứu có tính thực tiễn cao của các tác giả đi trƣớc để đề xuất các giải pháp nhằm tăng cƣờng hiệu quả và kiểm soát tốt rủi ro khi phát triển dịch vụ môi giới chứng khoán. Luan van 6 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ DỊCH VỤ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN 1.
Công ty chứng khoán và các hoạt động của công ty chứng khoán a. Vị trí của công ty chứng khoán trong thị trường chứng khoán Cùng với xu thế phát triển nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu trong thời gian qua, thị trƣờng chứng khoán ra đời từ thế kỉ thứ 15 đã thể hiện vai trò to lớn của nó trong việc huy động hiệu quả các nguồn lực của xã hội, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới và TTCK là một trong những yếu tố cơ bản nhất của nền kinh tế thị trƣờng hiện đại. TTCK đã và đang trở thành một định chế tài chính không thể thiếu của những nƣớc theo cơ chế thị trƣờng. Từ trƣớc đến nay, đã có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về TTCK nhƣ: “TTCK là một thị trƣờng có tổ chức, nơi các CK đƣợc mua bán theo những nguyên tắc nhất định” Hay "TTCK là thị trƣờng mà ở đó ngƣời ta phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn và tiến hành các hoạt động mua bán, chuyển nhƣợng chứng khoán để kiếm lời".
[7] Nguyên tắc hoạt động của TTCK Thị trƣờng chứng khoán hoạt động theo 3 nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc trung gian, nguyên tắc đấu giá và nguyên tắc công khai. - Nguyên tắc trung gian: Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trên thị trƣờng chứng khoán đều đƣợc thực hiện thông qua các trung gian, hay Luan van 7 còn gọi là các nhà môi giới. Các nhà môi giới thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng và hƣởng hoa hồng. Ngoài ra, nhà môi giới còn có thể cung cấp các dịch vụ khác nhƣ cung cấp thông tin và tƣ vấn cho khách hàng trong việc đầu tƣ.
Theo nguyên tắc trung gian, các nhà đầu tƣ không thể trực tiếp thoả thuận với nhau để mua bán chứng khoán. Họ đều phải thông qua các nhà môi giới của mình để đặt lệnh. Các nhà môi giới sẽ nhập lệnh vào hệ thống để khớp lệnh. - Nguyên tắc đấu giá: Giá chứng khoán đƣợc xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và các lệnh bán.
Tất cả các thành viên tham gia thị trƣờng đều không thể can thiệp vào việc xác định giá này. Có hai hình thức đấu giá là đấu giá trực tiếp và đấu giá tự động. + Đấu giá trực tiếp là việc các nhà môi giới gặp nhau trên sàn giao dịch và trực tiếp đấu giá. + Đấu giá tự động là việc các lệnh giao dịch từ các nhà môi giới đƣợc nhập vào hệ thống máy chủ của Sở giao dịch chứng khoán.
Hệ thống máy chủ này sẽ xác định mức giá sao cho tại mức giá này, chứng khoán giao dịch với khối lƣợng cao nhất. - Nguyên tắc công khai: Tất cả các hoạt động trên thị trƣờng chứng khoán đều phải đảm bảo tính công khai. Sở giao dịch chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thị trƣờng. Các tổ chức niêm yết công bố công khai các thông tin tài chính định kỳ hàng năm của công ty, các sự kiện bất thƣờng xảy ra đối với công ty, số lƣợng nắm giữ cổ phiếu của ban Giám đốc, ban kiểm soát, cổ đông lớn.
Các thông tin càng đƣợc công bố công khai minh bạch, thì càng thu hút đƣợc nhà đầu tƣ tham gia vào thị trƣờng chứng khoán. Luan van 8 Các nguyên tắc trên đây nhằm đảm bảo cho giá cả chứng khoán đƣợc hình thành một cách thống nhất, công bằng cho tất cả các bên giao dịch. Chức năng của thị trƣờng chứng khoán Thị trƣờng chứng khoán có các chức năng chủ yếu sau đây: - Thứ nhất, TTCK tạo ra một kênh huy động vốn hữu hiệu cho nền kinh tế. Khi các nhà đầu tƣ tham gia vào TTCK, họ mua chứng khoán của các tổ chức phát hành có nghĩa là số tiền nhàn rỗi của họ đã đƣợc sử dụng để đầu tƣ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất.
Thông qua TTCK chính phủ cũng huy động đƣợc các nguồn vốn trung và dài hạn cho mục đích đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ các nhu cầu chung của xã hội. - Thứ hai, TTCK cung cấp môi trƣờng đầu tƣ cho công chúng. Thông qua TTCK, các nhà đầu tƣ có thể lựa chọn cho mình một loại chứng khoán phù hợp để đầu tƣ nhằm nâng cao hiệu quả và hạn chế rủi ro. - Thứ ba, TTCK tạo tính thanh khoản cho các loại CK.
Nhờ có TTCK, nhà đầu tƣ có thể chuyển đổi cổ phiếu họ đang sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại CK khác một cách dễ dàng. Tính thanh khoản là một yếu tố làm tăng sự hấp dẫn của TTCK với công chúng đầu tƣ. TTCK hoạt động càng năng động, càng hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các CK và càng thu hút đƣợc nhiều nhà đầu tƣ tham gia thị trƣờng. - Thứ tƣ, TTCK là thƣớc đo đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Trên TTCK, hoạt động của các doanh nghiệp đƣợc phản ánh một cách tổng hợp và khách quan thông qua giá cổ phiếu của doanh nghiệp đó. Qua đó nó tạo ra môi trƣờng cho sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp tự mình phải đổi mới trang thiết bị, công nghệ và nâng cao chất lƣợng hoạt động mới có thể giành thắng lợi trong nền kinh tế thị trƣờng, nơi mà yếu tố cạnh tranh đang ngày càng trở nên khốc liệt. Luan van 9 - Thứ năm, TTCK giúp cho Chính phủ thực hiện việc quản lý vĩ mô nền kinh tế. Do TTCK rất nhạy cảm nên có thể thấy rằng những động thái trên TTCK phản ánh một cách chính xác các biến động của nền kinh tế, qua đó Chính phủ có thể đƣa ra các quyết định một cách nhanh chóng và hợp lý.
Mặt khác, Chính phủ cũng có thể thông qua thị trƣờng chứng khoán mua bán các loại trái phiếu để bù đắp thiếu hụt ngân sách, điều tiết lƣợng tiền cung ứng trên thị trƣờng và quản lý lạm phát.