CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS 1.1 Bản chất và vai trò của logistics ở DN 1.1 Một số khái niệm 1.1 Doanh nghiệp - Khái niệm về DN: Theo Luật DN năm 2005 (Điều 4) DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. -Các loại DN theo Luật DN năm 2005: a) DN nhà nước b) Công ty cổ phần là DN (Điều 77.Luật DN 2005) c) Công ty trách nhiệm hữu hạn d) Công ty hợp danh là DN (Điều 130. Luật DN 2005) e) Công ty liên doanh, xí nghiệp liên doanh, 100% vốn nước ngoài f) DN tư nhân (Điều 141.Luật DN 2005) g) Hộ kinh doanh (Luật DN 2005) 1.2 Khái niệm về logistics và dịch vụ logistics a/ Khái niệm về logistics Khái niệm logistics cũng đã tồn tại từ lâu trên thế giới và hiện nay đã trở nên phổ biến tại Việt Nam, trong đó có một số khái niệm nổi bật như: Theo ủy ban Quản trị Logistics Quốc tế (1991): Logistics là quá trình lập kế hoạch, triển khai và kiểm soát hiệu quả và hiệu năng lưu chuyển và lưu trữ hàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu của khách hàng(KH). Khái niệm logistics, theo ESCAP, là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và bao gồm cả vận chuyển các tài nguyên - yếu tố đầu vào và đầu ra từ 2 nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối và đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.
Điều này rất quan trọng, Logistics chỉ rõ nguồn lực tập trung là con người với vai trò vừa là đối tượng, vừa là công cụ tác động, vừa là chủ thể của quá trình. b/ Khái niệm về dịch vụ logistics Theo Hội đồng Quản lý dịch vụ logistics (CLM) quốc tế “ Dịch vụ Logistics một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, thông hiệu quả và lưu giữ các loại hàng hóa, dịch vụ và có liên quan đến thông tin từ điểm cung cấp cơ bản các điểm tiêu thụ để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng”. Theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. c/ Các dịch vụ logistics phổ biến hiện nay Dịch vụ logistics theo quy định tại điều 233.
Luật Thương mại năm 2005 như sau: - Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm: a) Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container; b) Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị; c) Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa; 3 d) Dịch vụ bổ trợ khác; bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container. - Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm: a) Dịch vụ vận tải hàng hải; b) Dịch vụ vận tải thủy nội địa; c) Dịch vụ vận tải hàng không; d) Dịch vụ vận tải đường sắt; e) Dịch vụ vận tải đường bộ; f) Dịch vụ vận tải đường ống. - Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm: a) Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật; b) Dịch vụ bưu chính; c) Dịch vụ thương mại bán buôn; d) Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng; và các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác. d/ Những tiêu chí đánh giá dịch vụ logistics Theo kết quả khảo sát về Logistics năm 2008, Công ty SCM đã tiến hành nghiên trên 300 công ty thuộc 500 công ty lớn nhất Việt Nam và đưa ra kết các tiêu chí được xếp hạng khi lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ 1/ Chất lượng dịch vụ 2/ Giá cả dịch vụ 3/ Khả năng cải tiến 4/ Kinh nghiệm, am hiểu, có khả năng cải tiến 4 5/ Phạm vi và địa bàn hoạt động 6/ Khả năng hỗ trợ và mở rộng kinh Doanh 7/ Đội ngũ nhân viên đạt được yêu cầu 1.2 Đặc điểm của logistics Logistics là một môn nghệ thuật và là một môn khoa học của quản lý, nó điều chỉnh luồng di chuyển của hàng hoá, năng lượng, thông tin và những nguồn lực khác như sản phẩm, dịch vụ và con người, từ nguồn lực của sản xuất cho đến thị trường.
Thật là khó khi phải hoàn thành việc tiếp thị hay sản xuất mà không có sự hỗ trợ của logistics. Nó thể hiện sự hợp nhất của thông tin liên lạc, vận tải, tồn kho, lưu kho, giao nhận nguyên vật liệu, bao bì đóng gói. Trách nhiệm vận hành của hoạt động logistics là việc tái định vị (theo mục tiêu địa lý) của nguyên vật liệu thô, của công việc trong toàn quá trình, và tồn kho theo yêu cầu chi phí tối thiểu có thể.3 Vai trò và tác dụng của logistics 1.1 Vai trò của logistics Logistics là công cụ liên kết các hoạt động kinh tế quốc tế như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối; mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế. Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược DN.
Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của DN. - Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện…tới sản phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng. - Logistics đóng vai trò hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Logistics cho phép người quản lý kiểm soát 5 và ra quyết định chính xác những vấn đề như vật liệu cung ứng, lưu trữ trong kho, thời gian địa điểm cung ứng, phương thức vận chuyển…để giảm tối đa chi phí phát sinh đảm bảo hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
-Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi hoàn thiện dịch giao nhận, đảm bảo yếu tố đúng thời gian- địa điểm. - Logistics cho phép các nhà kinh doanh vận tải giao nhận cung cấp các dịch vụ đa dạng, phong phú hơn ngoài dịch vụ giao nhận vận tải đơn thuần. Logistics là sự phối hợp, gắn kết các hoạt động, các khâu trong dòng lưu chuyển của hàng hóa qua các giai đoạn cung ứng – sản xuất- lưu thông phân phối.2 Tác dụng của logistics - Dịch vụ Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các DN.Với việc hình thành và phát triển dịch vụ Logistics sẽ giúp các DN cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giảm hơn và đạt hiệu quả hơn. - Dịch vụ Logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí hoạt động lưu thông phân phối.
Dịch vụ Logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông. -Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các DN vận tải, kho vận,… - Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế. - Dịch vụ logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh đặc biệt trong buôn bán và vận tải quốc tế.4 Phân loại logistics Phổ biến hiện nay, trên thế giới người ta phân lọai logistics theo các hình thức sau : -Logistics bên thứ nhất (1PL-First Party Logistics) : là hình thức mà theo đó người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các họat động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân. -Logistics bên thứ hai (2PL-Second Party Logistics) : Người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một họat động đơn lẻ trong chuỗi các họat động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan,…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa tích hợp họat động logistics.
-Logistics bên thứ ba (3PL-Third Party Logistics): Người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba là người thay mặt chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng. Do vậy, 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin,. và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. -Logistics bên thứ tư (4PL-Forth Party Logistics): là người tích hợp, hợp nhất, gắn kết các nguồn lực tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics.
4PL chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cung ứng, họach định, tư vấn logistics, quản trị vận tải,. 4PL hướng đến quản trị cả quá trình logistics. -Logistics bên thứ năm (5PL-Fifth Party Logistics): còn có tên là e- logistics, phát triển dựa trên nền tảng của thương mại điện tử. Các nhà cung cấp dịch vụ 5PL là các 3PL và 4PL đứng ra quản lý tòan chuỗi phân phối trên nền tảng thương mại điện tử.2 Cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ logistics Dịch vụ logistics bao gồm rất nhiều yếu tố và các yếu tố này tạo thành chuỗi logistics (logistics chain).
Cụ thể ta có thể nêu một số yếu tố cơ bản cần có trong dịch vụ logistics như sau: 1. Yếu tố vận tải 2. Yếu tố Marketing 3. Yếu tố phân phối 4.
Yếu tố quản trị 5.