Một số giải pháp phát triển Công ty Điện thoại Tây Thành phố (WHTC) đến năm 2015

Luận văn thạc sĩ UEH đề xuất giải pháp phát triển công ty điện thoại Tây thành phố WHTC đến năm 2015, nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2010

122
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp phát triển Công ty Điện thoại Tây Thành phố WHTC

Công ty Điện thoại Tây Thành phố (WHTC) là một trong những đơn vị chủ lực trong ngành viễn thông tại TP.HCM. Để phát triển bền vững đến năm 2015, WHTC cần có những giải pháp chiến lược phù hợp với bối cảnh thị trường hiện tại. Việc phân tích SWOT sẽ giúp xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức mà công ty đang phải đối mặt.

1.1. Tầm quan trọng của ngành viễn thông trong phát triển kinh tế

Ngành viễn thông đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nó không chỉ là hạ tầng thiết yếu mà còn là động lực cho sự phát triển của các ngành khác.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của WHTC

WHTC đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ những ngày đầu thành lập đến nay, công ty đã không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ.

II. Vấn đề và thách thức trong phát triển WHTC đến năm 2015

Mặc dù WHTC đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng công ty vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức từ thị trường cạnh tranh khốc liệt. Việc xác định rõ các vấn đề này là cần thiết để đưa ra các giải pháp hiệu quả.

2.1. Cạnh tranh từ các đối thủ trong ngành viễn thông

Sự gia tăng của các đối thủ cạnh tranh trong ngành viễn thông đã tạo ra áp lực lớn cho WHTC. Các công ty mới gia nhập thị trường với công nghệ hiện đại và chiến lược marketing mạnh mẽ.

2.2. Thách thức từ công nghệ và nhu cầu thị trường

Công nghệ viễn thông phát triển nhanh chóng, yêu cầu WHTC phải liên tục đổi mới và cải tiến dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

III. Phương pháp phát triển Công ty Điện thoại Tây Thành phố WHTC

Để phát triển bền vững, WHTC cần áp dụng các phương pháp chiến lược hiệu quả. Các giải pháp này sẽ tập trung vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng thị trường.

3.1. Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ

Cải thiện chất lượng dịch vụ là ưu tiên hàng đầu của WHTC. Công ty cần đầu tư vào công nghệ mới và đào tạo nhân viên để nâng cao trải nghiệm khách hàng.

3.2. Giải pháp mở rộng thị trường và phát triển sản phẩm mới

WHTC cần nghiên cứu và phát triển các sản phẩm dịch vụ mới để thu hút khách hàng và mở rộng thị trường, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ giá trị gia tăng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về WHTC

Việc áp dụng các giải pháp phát triển đã mang lại nhiều kết quả tích cực cho WHTC. Các số liệu thống kê cho thấy sự tăng trưởng doanh thu và thị phần của công ty trong những năm qua.

4.1. Kết quả kinh doanh từ năm 2007 đến 2009

Doanh thu của WHTC đã tăng trưởng ổn định trong giai đoạn này, nhờ vào việc cải tiến dịch vụ và mở rộng mạng lưới.

4.2. Phân tích SWOT và ứng dụng vào thực tiễn

Phân tích SWOT đã giúp WHTC nhận diện rõ hơn các cơ hội và thách thức, từ đó đưa ra các quyết định chiến lược phù hợp.

V. Kết luận và tương lai của Công ty Điện thoại Tây Thành phố WHTC

WHTC cần tiếp tục phát triển và đổi mới để giữ vững vị thế trong ngành viễn thông. Các giải pháp đã đề xuất sẽ là nền tảng cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

5.1. Định hướng phát triển đến năm 2015

WHTC cần xác định rõ các mục tiêu phát triển cụ thể để đạt được sự tăng trưởng bền vững trong tương lai.

5.2. Tầm nhìn dài hạn cho WHTC

Công ty cần xây dựng một tầm nhìn dài hạn, không chỉ tập trung vào lợi nhuận mà còn vào trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh một số giải pháp góp phần phát triển công ty điện thoại tây thành phố whtc đến năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM 1. ĐẶC ĐIỂM KỸ THUẬT KINH TẾ - NGÀNH: 1. Lịch sử hình thành và phát triển ngành Viễn thông Việt Nam: Lịch sử ngành Bưu điện Việt Nam (BĐVN) hơn 60 năm qua luôn gắn liền với lịch sử dân tộc trong sự nghiệp giải phóng, bảo vệ và xây dựng tổ quốc. Các thế hệ cán bộ công nhân viên ngành Bưu điện đã luôn trung thành, dũng cảm, tận tụy, sáng tạo.

phục vụ cho sự nghiệp giải phóng và xây dựng đất nước. Ngành đã được Đảng Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh (1990); Huân chương Sao Vàng (1995); Huân chương Độc lập hạng nhất (1997); … Thời kỳ 1930-1945, Đảng ta đã trực tiếp thành lập và lãnh đạo đội quân giao thông cách mạng làm nhiệm vụ đưa đón cán bộ, công văn, tài liệu, chỉ thị của Đảng tới các cấp ủy và chính quyền địa phương trong cả nước. Ngày 14-15/8/1945, thành lập “Ban giao thông chuyên môn”, mở ra thời kỳ chuyển biến mới về tổ chức và hoạt động giao thông liên lạc của Đảng. Ngày 28/6/1947, Bộ Giao thông công chính đã ban hành Nghị định số 335/NĐ tổ chức lại ngành Bưu điện thành 3 Nha Bưu điện trong cả nước: ở Trung ương có Nha Tổng Giám Đốc, dưới Nha Tổng Giám đốc có 3 Nha Giám đốc ở 3 miền: Nha Giám đốc Bưu điện Bắc Bộ, Nha Giám đốc Bưu điện Trung Bộ và Nha Bưu điện miền Nam.

Ngày 12/6/1951, sáp nhập ngành Vô tuyến điện hành chính vào ngành Bưu điện. Nha Bưu điện đổi thành Nha Bưu điện - Vô tuyến điện Việt Nam. Cuối năm 1971, qua phương hướng cải tiến quản lý của Trung ương Đảng và Chính phủ, lãnh đạo Tổng cục Bưu điện đã xác định: “Ngành Bưu điện là cơ quan thông tin liên lạc của Đảng và Nhà nước, đồng thời là một ngành kinh tế, kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, có hệ thống dọc từ Trung ương đến các địa phương, hoạt động theo phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, hạch toán kinh tế toàn Ngành” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Nghị định của Chính phủ số 480/TTg ngày 8/3/1955, Nha Bưu điện-Vô tuyến điện Việt Nam được đổi tên thành Tổng cục Bưu điện Việt Nam thuộc Bộ Giao thông Bưu điện. Hoạt động của Ngành từ quản lý hành chính sự nghiệp chuyển sang hoạt động có kinh doanh.

Ngày 5/5/1972, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định 93/CP về việc cải tiến tổ chức Bưu điện tại địa phương. Sự thay đổi đánh dấu bước ngoặt của Ngành từ công sở hành chính bao cấp sang hạch toán kinh tế, kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Cuối năm 1973, Ban Giao bưu Trung ương Cục chủ trương thành lập Cục Giao thông Vận tải lấy tên là Đoàn 571 và xúc tiến việc thành lập tổ chức Bưu điện trực thuộc Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Năm 1976, Tổng cục Bưu điện đã chính thức tham gia 2 tổ chức quốc tế là: Liên minh Bưu chính thế giới (UPU) và Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) và tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế với nhiều nước trên thế giới.

Ngày 2/11/1979, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định 390/CP xác định: “Ngành Bưu điện là cơ quan thông tin liên lạc của Đảng và chính quyền các cấp, đồng thời là một ngành kinh tế-kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân, hoạt động theo phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa và chế độ hạch toán kinh tế”. Ngày 7/4/1990, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 115/HĐBT chuyển Tổng cục Bưu điện thành Tổng Công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam. Ngày 7/5/1994, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 91/TTg chuyển Tổng công ty Bưu chính-Viễn thông thành tập đoàn kinh doanh của Nhà nước. Ngày 11/11/2002, Chính phủ ra Nghị định số 90/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Bưu chính, Viễn thông.

Bộ Bưu chính, Viễn thông là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, điện tử, internet, truyền dẫn phát sóng, tần số vô tuyến điện và cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin theo quy định của pháp luật. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ngày 26/3/2006 là một cột mốc đáng nhớ trong đời sống đầy sôi động của Bưu chính Viễn thông và CNTT Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Đó là ngày đánh dấu sự kiến ra đời của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) - một mô hình được kỳ vọng sẽ làm cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn, có khả năng cạnh tranh cao trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, có sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế trong nước và ngoài nước. Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (tên giao dịch quốc tế là Vietnam Post and Telecommunication Corperation – viết tắt là VNPT) được thành lập theo cơ sở Quyết định số 249/QĐ-TTg, ngày 29/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức sắp xếp lại các đơn vị dịch vụ, công nghiệp, thương mại và sự nghiệp của Tổng cục Bưu điện.

VNPT thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh, hạch toán kinh doanh tổng hợp toàn ngành theo nguyên tắc lấy thu bù chi và có lãi. Hoạt động sản xuất kinh doanh của VNPT là sự tập hợp, đan xen, đa dạng của nhiều loại hình kinh doanh, trong đó: hoạt động kinh doanh các dịch vụ Bưu chính - Viễn thông - Tin học là nòng cốt; các hoạt động sản xuất công nghiệp, tư vấn thiết kế, xây lắp, thương mại, dịch vụ tài chính là quan trọng; các hoạt động đào tạo, nghiên cứu phát triển, chăm sóc sức khoẻ là chỗ dựa. Với ưu thế là doanh nghiệp nhà nước chủ đạo, có mạng lưới rộng khắp trên phạm vi cả nước, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, đội ngũ lao động có trình độ, kinh nghiệm, VNPT hiện là nhà khai thác cung cấp hầu hết các dịch vụ Bưu chính - Viễn thông - Tin học trong nước và quốc tế. VNPT có nhiệm vụ kinh doanh và phục vụ về bưu chính và viễn thông, chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông, các bộ, cơ quan ngang Bộ.

Hoạt động cụ thể của VNPT bao gồm: Xây dựng, quản lý và phát triển mạng lưới Bưu chính - Viễn thông công cộng; kinh doanh các dịch vụ Bưu chính - Viễn thông; bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước; phục vụ quốc phòng, an ninh, ngoại giao; sản xuất công nghiệp Bưu chính - Viễn thông, tư vấn và xây lắp các công trình Bưu chính - Viễn thông; xuất nhập khẩu và cung ứng vật tư, thiết bị Bưu chính - Viễn thông; cung cấp dịch vụ tài chính; liên doanh, liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước phù hợp với pháp luật và chính sách của Nhà nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 VNPT gồm các đơn vị thành viên hạch toán độc lập, hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp có liên quan mật thiết với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, dịch vụ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị. VNPT gồm 16 Ban chức năng và 98 đơn vị thành viên, với khoảng 90.000 người lao động. Do nhu cầu của phát triển kinh tế của đất nước, VNPT là một trong những Tổng công ty 91 được phê duyệt thí điểm hình thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam theo quyết định số 06/2006/QĐ-TTg.

Theo đó, tách Bưu chính ra khỏi Viễn thông, mở rộng hoạt động kinh doanh theo khả năng của doanh nghiệp, cổ phần hóa một số công ty thành viên cũ như VMS, GPC (vốn tập đoàn 50%), khối các công ty sản xuất thiết bị, xây dựng, liên doanh. (vốn của Tập đoàn dưới 50%) và mở rộng quyền chủ động kinh doanh cho các công ty thành viên. Về cơ cấu, có sự thay đổi trong việc sắp xếp lại Văn phòng Tổng Công ty. Công ty Viễn thông Quốc tế, Công ty Viễn thông liên tỉnh, một phần Công ty Tài chính Bưu điện được sắp xếp lại trực tiếp trực thuộc Tập đoàn Bưu chính viễn thông, vẫn lấy tên cũ là VNPT; 64 bưu điện tỉnh thành được sắp xếp lại thành 3 Tổng công ty Bưu chính khu vực I,II, III và 64 Viễn thông tỉnh, thành phố trực thuộc Tập đoàn.

Khi chuyển thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam được xác định là một tổ hợp kinh tế bao gồm các doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập, đa sở hữu trong đó sở hữu Nhà nước giữ vai trờ chủ đạo có sự tham gia của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước; kinh doanh đa lĩnh vực, trong đó lĩnh vực bưu chính, viễn thông và CNTT giữ vai trò nòng cốt ■ GIỚI THIỆU VỀ VNPT: 1. Lịch sử phát triển Viễn thông TP. Hồ Chí Minh: + Viễn thông TP. Hồ Chí Minh vận hành theo nhu cầu thị trường và luôn được khách hàng tín nhiệm.

Là một Doanh nghiệp Nhà nước đang và sẽ tiếp tục đặt mối quan tâm về nhu cầu khách hàng lên hàng đầu. Công nghệ và dịch vụ là thế mạnh của Viễn thông TP. Hồ Chí Minh. Khách hàng đều được đáp ứng tất cả yêu cầu về dịch vụ viễn thông và yên tâm về chất lượng dịch vụ cũng như chất lượng phục vụ.

Tiền thân của Viễn thông TP. Hồ Chí Minh là Bưu điện TP.HCM được thành lập ngay sau ngày 30.1975, trong hơn 35 qua năm luôn là doanh nghiệp viễn thông đi đầu trong phát triển công nghệ mới và dịch vụ mới.HCM đã được UNDP bình chọn trong top 10 doanh nghiệp lớn nhất VN năm 2007. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Trụ sở chính của Viễn thông TP. Hồ Chí Minh đặt tại số 125 Hai Bà Trưng, P.

Bến Nghé, Quận1, TP. Hồ Chí Minh Điện thoại: (84-8) 38282828 Website: http://www.vn ■ Thương hiệu VNPT: Cụm đồ họa về hệ thống nhận diện thương hiệu VNPT Logo VNPT gồm 2 phần: phần hình (graphic logo) là cách điệu của vệt quỹ đạo vệ tinh xoay quanh quả địa cầu vẽ lên chữ V, biểu hiện sự phát triển theo mạch vận động không ngừng. Phần text: VNPT (viết tắt của Vietnam Posts & Telecommunications) Đôi mắt thể hiện sự quan tâm, chia sẻ, minh họa cho giá trị nhân văn của VNPT. Cụm đồ họa VNPT - cánh sóng cách điệu - đôi mắt: thể hiện VNPT luôn vì khách hàng, quan tâm chăm sóc khách hàng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ