CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TẠI CÁC KHU CHẾ XUẤT, KHU CÔNG NGHIỆP 1.1 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) được định nghĩa khác nhau ở các quốc gia khác nhau tùy thuộc vào đặc trưng của mỗi nước. Tại Thái Lan, định nghĩa CNHT là ngành công nghiệp cung cấp các linh phụ kiện máy móc và các dịch vụ kiểm tra, đóng gói kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản, và nhấn mạnh rằng các bộ phận kim loại và công nghiệp chế tạo, ngành sản xuất phụ tùng ô tô và phụ tùng điện, điện tử là những ngành công nghiệp phụ trợ quan trọng. Trong khi Hàn Quốc không sử dụng khái niệm CNHT mà dùng khái niệm công nghiệp vật liệu và linh kiện (Materials and Component Industry). Trong đó, vật liệu (materials) là vật chất cơ bản để cấu thành nên một phụ kiện hoặc một chế phẩm; chính sách phát triển của Hàn Quốc rất coi trọng ngành công nghiệp vật liệu, một số vật liệu tiêu biểu được xem là gốc rễ của các ngành công nghiệp, làm nền tảng cho sự phát triển và tăng cường năng lực cạnh tranh trong các ngành công nghiệp chế tạo, ví dụ như: kim loại, hóa học, sợi vải, sản phẩm nung như đất sét, đá, gốm (đã qua xử lý)….
Linh kiện (component) là những bộ phận không có chức năng độc lập, được kết hợp với các sản phẩm khác để tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh, ví dụ như các bộ phận trong động cơ, các bo mạch điện tử… được minh họa trong hình 1.1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Vật liệu và linh kiện trong chuỗi cung ứng Tại Nhật Bản, theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (JCCI), định nghĩa CNHT (Supporting Industry) bao gồm các ngành cung cấp nguyên liệu và bộ phận cho các nhà lắp ráp, do đó, CNHT của Nhật Bản trải qua 2 giai đoạn: giai đoạn sản xuất vật liệu để hỗ trợ cho các ngành, đặc biệt là ngành sắt thép, ngành nhựa…và giai đoạn tiếp theo là sản xuất ra các phụ kiện; trong đó, ngành sản xuất nguyên liệu là ngành công nghiệp cơ bản, đóng vai trò nền tảng, dựa trên những công nghệ truyền thống như gia công áp lực và hàn (đúc, rèn, dập, cắt, hàn), công nghệ gia công cắt gọt (tiện, phay, bào, mài…) cho đến các công nghệ nhiệt luyện, công nghệ chế tạo tiên tiến như cắt bằng tia laser, công nghệ in 3D,… Mỗi ngành công nghiệp đều có CNHT riêng, ví dụ hình 1.2 mô tả CNHT sản xuất ô tô LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Sản xuất Ô tô Sản xuất khung xe Tầng 1 Sản xuất thiết bị Hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ Sản xuất máy Sản xuất Linh kiện Tầng 2 Sản xuấtVật liệu Sản xuấtLắp ráp Sản xuấtChế biến Sản xuấtDụng cụ Sản xuấtLinh kiện Tầng 3 Sản xuất Vật liệu Sản xuấtLắp ráp Sản xuấtChế biến Sản xuấtDụng cụ Nguồn: Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản – METI, 2014.2 Ngành công nghiệp sản xuất ô tô [28] Tại Việt Nam, CNHT được định nghĩa trong Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành “Chính sách phát triển một số ngành Công nghiệp hỗ trợ”. Theo đó, công nghiệp hỗ trợ được định nghĩa là “các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”. [21] Sản phẩm của CNHT bao gồm vật liệu, phụ tùng, linh kiện mang tính chất bán thành phẩm, để cung cấp cho khâu lắp ráp, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, minh hoạ nhận diện CNHT trong chuỗi hoạt động của các ngành công nghiệp như Hình 1.3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Nghiên cứu thiết kế Nhóm hoạt động lõi Nhóm hoạt đông hỗ trợ: Ngành CNHT Máy công cụ Nguyên vật liệu CN vật liệu, sơ chế CN chế tạo, chế CN lắp ráp thô: biến; CN lắp ráp hoàn chỉnh bộ phận sản phẩm - Quặng kim loại Sản phẩm - Cát, đá CNHT - Mủ cao su - Bông, tơ - Dầu thô - Tôm, cá - Chi tiết máy, linh - Sắt, thép kiện, phụ tùng; bộ Các loại sản - Lúa, ngô, sắn - Xi măng, gạch, phận máy. phẩm hoàn - … ngói - Bê tông, gạch ốp… chỉnh - Nhựa, cao su - Nệm mút, vỏnhựa,.
- Sợi - Vải - Nhựa, xăng, - Vỏ xe các loại dầu - Bún, mì sợi - Hải sản - Hải sản đông hộp - Gạo, bột mì - … - … Nguồn: Huỳnh Thanh Điền, 2014.3: Nhận diện CNHT trong chuỗi hoạt động của các ngành công nghiệp Các ngành công nghệ hỗ trợ ưu tiên phát triển tại Việt Nam được xác định là dệt may, da giày, điện tử - tin học, lắp ráp ô tô, cơ khí chế tạo và công nghiệp công nghệ cao.2 Vai trò của CNHT Một là, quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp. CNHT được coi là ngành sản xuất nền tảng của ngành công nghiệp chính yếu, thông qua việc cung cấp linh kiện, phụ tùng và các qui trình kỹ thuật. Công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 nghiệp hỗ trợ không phải là ngành công nghiệp mang tính chất “phụ trợ” hay “hỗ trợ”, đây là ngành xương sống của nền công nghiệp quốc gia. Trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, Công nghiệp quốc gia không thể tồn tại và phát triển được nếu không có ngành CNHT phát triển bởi công nghiệp hỗ trợ quyết định giá thành sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm cuối cùng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Việc dựa vào linh kiện và phụ tùng nhập khẩu đã làm tăng chi phí sản xuất, tăng nguy cơ nhập siêu, tính cạnh tranh của sản phẩm thấp. Bên cạnh đó, khi nhu cầu thị trường có thay đổi, khả năng thay đổi để thích ứng với yêu cầu của thị trường của các sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh thấp do không chủ động được nguyên liệu đầu vào. Hai là, CNHT tăng tính chủ động cho nền kinh tế. CNHT được coi là ngành sản xuất nền tảng của ngành công nghiệp chính yếu, thông qua việc cung cấp các phụ tùng, linh kiện và các qui trình xử lý kỹ thuật.
Nếu CNHT trong nước không phát triển thì các ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp sẽ phải lệ thuộc vào nước ngoài đặc biệt trong trường hợp có biến động về quan hệ ngoại giao, khi đó ngành chế tạo ở quốc gia này chỉ là ngành gia công, lắp ráp đơn thuần và khả năng cạnh tranh rất thấp và phụ thuộc vào bên ngoài. Như vậy phát triển CNHT sẽ đảm bảo tính chủ động cho nền kinh tế. Một quốc gia phát triển kinh tế dựa vào xuất khẩu và thu hút đầu tư FDI như Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, với ngành CNHT có năng lực cạnh tranh tốt đảm bảo cho các sản phẩm công nghiệp có tính cạnh tranh cao, nhờ đó, có thể duy trì nguồn vốn FDI cho ngành lắp ráp cuối cùng tương đối lâu. Việc chủ động được nguyên liệu đầu vào cho sản xuất sẽ giảm nhập siêu, tăng dự trữ ngoại hối, giảm sức ép lên cán cân thanh toán, đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
Trong bối cảnh tình hình biển Đông còn nhiều phức tạp do Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD981, việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc tiềm ẩn nhiều rủi ro, ảnh hưởng lớn đến sản xuất trong nước và độc lập tự chủ của đất nước, càng cho thấy sự cấp thiết phải đặt ngành CNHT ở vị trí cao hơn các ngành khác trong ưu tiên phát triển. Ba là, CNHT thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Phát triển CNHT giúp các doanh nghiệp chỉ cần chọn, tập trung vào chuyên môn hóa vào khâu mà mình có khả năng làm tốt nhất với một mức đầu tư chi phí hợp lý nhất, giảm được giá thành sản phẩm. Kết quả là xã hội nói chung và ngành công nghiệp nói riêng có sự phân công lao động ngày càng sâu sắc. Hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại: một cơ cấu kinh tế hợp lý là cơ cấu kinh tế trong đó tỷ trọng nông nghiệp giảm, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên.
Đối vơi Việt Nam, để hình thành cơ cấu kinh tế mới hợp lý cần phải phát huy vai trò các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó công nghiệp hỗ trợ phát triển là nhân tố thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ nội địa phát triển. Lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ phần lớn do các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện với qui mô sản xuất nhỏ, đây là khu vực tạo ra nhiều việc làm, chiếm tới hơn 97% số doanh nghiệp ở Việt Nam. CNHT là ngành bao trùm số lượng lớn các ngành công nghiệp khác nên ngành này đang thu hút một số lượng lớn lao động đáng kể, cung cấp các chi tiết, thiết bị, linh kiện để lắp ráp sản phẩm chính. Các công đoạn đó thường do doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện, vì vậy, công nghiệp hỗ trợ phát triển sẽ kéo theo doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển.
Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ là biện pháp hữu hiệu nhât để đối phó với khủng hoảng kinh tế, là đối trọng để cân bằng với sự bị tác động nhanh và mạnh của các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đối với các Tập đoàn kinh tế khổng lồ. Việc thành lập và sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp này không đòi hỏi nguồn vốn lớn, cơ chế hoạt động linh hoạt. Hơn nữa, lao động ngành này đòi hỏi phải có những lao động có tay nghề, có trình độ được đào tạo, dẽ dàng tiếp thu công nghệ mới. Kết quả là cơ cấu lao động thay đổi từ từ, từng bước nâng cao dần tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý hơn.
Bốn là, CNHT tăng khả năng thu hút đầu tư nước ngoài Tỷ lệ chi phí về CNHT cao hơn rất nhiều so với chi phí lao động trong giá thành sản phẩm hoàn chỉnh, nên dù Việt Nam có ưu thế lao động dồi dào và rẻ thì CNHT không phát triển cũng làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài FDI. Ngày nay, khi các tập đoàn đa quốc gia lựa chọn địa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.