phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng : Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển công nghiệp Chƣơng 2 : Thực trạng phát triển công nghiệp Hải Phòng trong những năm qua Chƣơng 3 : Một số định hƣớng và giải pháp nhằm đẩy nhanh sự phát triển của công nghiệp Hải Phòng 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 1. VAI TRÕ CỦA CÔNG NGHIỆP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 1. Khỏi niệm cụng nghiệp Nhân loại đã trải qua lịch sử phát triển rất lâu dài, từ nền văn minh nông nghiệp đến nền văn minh công nghiệp và nền kinh tế tri thức. Mỗi nền văn minh đều dựa trên một cơ sở kinh tế nhất định.
Trong nền văn minh công nghiệp, công nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu. Đây là ngành kinh tế dựa trên việc sử dụng tƣ liệu sản xuất chủ yếu là máy móc, với phân công, chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất sâu rộng. Ngành công nghiệp có lịch sử phát triển rất lâu dài, từ trình độ thủ công lên trình độ cơ khí, tự động; từ chỗ gắn liền với nông nghiệp trong khuôn khổ của một nền sản xuất nhỏ tự cung tự cấp rồi tách ra khỏi nông nghiệp bởi một cuộc phân công lao động lớn thứ hai để trở thành một ngành sản xuất độc lập và phát triển cao hơn qua các giai đoạn hiệp tác giản đơn, công trƣờng thủ công, công xƣởng. Trong nền kinh tế quốc dân hiện đại, công nghiệp là một ngành sản xuất vật chất độc lập, có vai trò chủ đạo trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến tài nguyên thiên nhiên và các sản phẩm của ngành nông nghiệp thành những tƣ liệu sản xuất và tƣ liệu tiêu dùng.
Từ những điều trình bày trên đây có thể thấy rằng, công nghiệp có những đặc trƣng chủ yếu sau: - Về mặt kinh tế - xã hội, công nghiệp là ngành tƣơng đối độc lập trong khâu khai thác, chế biến, sửa chữa và có mối quan hệ liên ngành với 6 nhiều ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp tạo lập cơ sở vật chất, mở đƣờng cho sự tiến bộ trong quan hệ sản xuất, tổ chức phân công lao động ngày càng chặt chẽ; trình độ khoa học - kỹ thuật và công nghệ, trình độ tổ chức quản lý ngày càng cao. Sự phát triển công nghiệp làm thay đổi tƣ duy, thay đổi nếp sống của xã hội. - Về mặt kinh tế - kỹ thuật, sản xuất công nghiệp khác với sản xuất nông nghiệp: sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hƣởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên, sản xuất công nghiệp là quá trình tác động cơ - lý - hoá trực tiếp của con ngƣời vào giới tự nhiên để lấy ra và biến đổi các vật chất tự nhiê n thành sản phẩm theo nhu cầu của con ngƣời.
- Công nghiệp tạo ra năng suất lao động xã hội cao, của cải dồi dào. Đó là cơ sở, nền tảng vật chất cho việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế-xã hội. Với những đặc trƣng trên đây, công nghiệp đã trở thành ngành kinh tế quan trọng nhất, trực tiếp thúc đẩy quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ việc sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với khoa học - công nghệ tiên tiến, tạo ra năng suất lao động và hiệu quả kinh tế - xã hội cao, là nền tảng của nền văn minh công nghiệp. Đặc điểm của công nghiệp trong giai đoạn hiện nay Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, của khoa học - công nghệ và quan hệ kinh tế quốc tế đã đem lại thay đổi to lớn cho nhiều ngành kinh tế, trong đó có ngành công nghiệp.
Khu vực hoá và toàn cầu hoá là xu thế nổi bật trong giai đoạn hiện nay. Các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội, trong đó có ngành công nghiệp chịu tác động trực tiếp của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Quá 7 trình này tiếp tục diễn ra với quy mô ngày càng lớn, ở những cấp độ khác nhau với xu hƣớng toàn cầu hoá đi đôi với xu hƣớng khu vực hoá và tốc độ ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Trƣớc đây, các yếu tố bên ngoài đóng vai trò ít quan trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp, nền kinh tế có cơ cấu tƣơng đối hoàn chỉnh và khép kín.
Ngày nay, xu hƣớng quốc tế hoá đời sống kinh tế đã trở nên mạnh mẽ. Các nƣớc dù muốn hay không cũng bị thu hút vào các quan hệ kinh tế quốc tế. Các mối quan hệ kinh tế quốc tế này có ảnh hƣởng quan trọng đối với việc hình thành cơ cấu kinh tế của các quốc gia, chúng làm thay đổi cơ cấu của các lực lƣợng tham gia vào ngành công nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh diễn ra đặc biệt gay gắt.
Đây là thách thức lớn nhất đối với phát triển công nghiệp ở các nƣớc đang phát triển hiện nay. Công nghiệp chịu ảnh hƣởng trực tiếp của cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Cuộc cách mạng này đặc trƣng bởi những phát minh khoa học đều trực tiếp dẫn đến sự hình thành các nguyên lý công nghệ sản xuất mới, làm thay đổi về chất cách thức sản xuất chứ không chỉ đơn thuần về mặt công cụ sản xuất. Cuộc cách mạng này có tác dụng làm đảo ngƣợc trình tự phát triển của một số lĩnh vực và ngành công nghiệp cũng không nằm ngoài vòng quay đó.
Chẳng hạn, trƣớc đây công nghiệp hoá diễn ra ở các quốc gia có trình độ khoa học và công nghệ phát triển nhất theo trình tự: phát triển khoa học cơ bản - khoa học ứng dụng - phổ cập công nghệ trên diện rộng. Ngày nay, các nƣớc đi sau có thể đi theo trình tự ngƣợc lại: ứng dụng côn g nghệ tiên tiến nhập khẩu - phát triển khoa học ứng dụng - và chỉ khi trình độ phát triển kinh tế xã hội cao thì khoa học cơ bản mới có đủ tiền đề phát triển mạnh. Trình tự phát triển ƣu tiên các lĩnh vực trong tổng thể nền kinh tế cũng đã có những thay đổi mang tính tất yếu. Trƣớc đây, công nghiệp hoá đi 8 sau cuộc cách mạng nông nghiệp.
Khu vực nông nghiệp cung cấp nguồn nguyên liệu và lao động giải phóng ra từ nông nghiệp và bảo đảm cho công nghiệp nguồn tích luỹ nguyên thuỷ. Với những đặc điểm khác so với trƣớc đây của công nghiệp, ví dụ nhƣ phụ thuộc ít hơn vào nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp và yêu cầu đầu tƣ vốn cao thì nông nghiệp ngay cả khi phát triển ở trình độ khá cũng không thực hiện đƣợc các chức năng trên. Cách mạng trong nông nghiệp ở một số nƣớc NICs đã từng đƣợc thúc đẩy với mục tiêu ổn định kinh tế xã hội nông thôn, công nghiệp ngƣợc lại có vai trò tác động trở lại rất quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn. Trƣớc đây, trong mô hình công nghiệp hoá khép kín ở quy mô quốc gia, ƣu tiên phát triển công nghiệp nặng là cần thiết và hợp lý.
Hiện nay, trên quy mô thế giới, sản phẩm của ngành công nghiệp nặng có vị trí quan trọng song những sản phẩm đó không thể chỉ do một nƣớc sản xuất, nhất là những nƣớc chậm phát triển. Đối với một nƣớc, việc lựa chọn ƣu tiên sản xuất sẽ phải căn cứ vào hiệu quả của việc phát huy lợi thế so sánh. Phát triển công nghiệp trong điều kiện khoa học - công nghệ phát triển nhanh có nhiều thuận lợi nhƣng nguy cơ tụt hậu cũng là thách thức to lớn đối với các nƣớc đang phát triển. Do những đặc điểm của công nghiệp trong giai đoạn hiện nay, Nhà nƣớc có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp.
Vai trò của Nhà nƣớc không chỉ với chức năng quy định luật lệ, làm trọng tài, khuyến khích bằng những công cụ hành chính và kinh tế, bảo hộ sản xuất và thƣơng mại quốc gia mà Nhà nƣớc còn chức năng định hƣớng phát triển công nghiệp, đầu tƣ hình thành những cơ sở ban đầu, chia sẻ rủi ro trong những lĩnh vực công nghiệp mới… 1. Vị trí của công nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay 9 Ngành công nghiệp khi phát triển bản thân nó đã là một khu vực đóng góp một phần lớn trong tổng sản phẩm xã hội. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới ngành công nghiệp đều chiếm tỷ trọng cao và ngày càng có xu hƣớng phát triển. Ngoại trừ các quốc gia phát triển, ở đó tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ rất lớn trong tổng sản phẩm quốc nội.
Theo niên giám thống kê năm 1996, trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ là Trung Quốc, Inđonesia, Hàn Quốc, CHDCND Lào, Mianma, Nepan, Philippin, Singapo, Đai Loan, Thai lan, Tonga có các số liệu về tỷ trọng công nghiệp trong GDP thì có tới 10 quốc gia có tỷ trọng công nghiệp chiếm từ 20% đến 49%. Tỷ trọng này của các quốc gia đang tăng lên đáng kể so với năm 1975 và 1985. Ở Việt Nam điều này đƣợc thể hiện rất rõ, tỷ trọng công nghiệp trong GDP đang ngày càng tăng, từ 19,8% năm 1991 lên 22,8% năm 1995. Bằng chỉ tiêu giá trị gia tăng công nghiệp và tỷ trọng của nó trong GDP, chúng ta có thể thấy đƣợc vai trò của công nghiệp trong đóng góp trực tiếp vào tăng trƣởng kinh tế.
Trong những năm gần đây, công nghiệp Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trƣởng tƣơng đối cao ở phần lớn các phân ngành công nghiệp và hầu nhƣ ở tất cả các vùng lãnh thổ. Tốc độ tăng trƣởng công nghiệp đạt từ trên 10% đến 15% bình quân năm (thậm chí có năm lên tới trên 15%). Sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp góp phần tăng nhanh tích luỹ để đầu tƣ phát triển đất nƣớc. Theo số liệu có đƣợc từ bảng I/O (Input - Output table) năm 1995 do Tổng cục thống kê cung cấp, khoảng 9% giá trị đầu ra của công nghiệp đƣợc dùng cho tích luỹ và đầu tƣ phát triển.
Bên cạnh đó, công nghiệp cũng góp phần quan trọng trong việc tạo tiền đề cơ sở vật chất kỹ thuật cho các hoạt động kinh tế xã hội.