CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và đặc điểm của cho vay tiêu dùng 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng Để tìm hiểu khái niệm về cho vay tiêu dùng trước hết ta tìm hiểu về khái niệm: tín dụng và tín dụng của ngân hàng thương mại là gì? Trước hết, tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay.
Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc giá trị hàng hóa đã vay khi đến hạn trả nợ gốc có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi. Có nhiều căn cứ để phân loại tín dụng, thông thường chia theo các căn cứ sau: Thứ nhất, căn cứ vào hình thức cấp tín dụng phân chia tín dụng thành các hình thức sau: (i) cho vay: cấp tín dụng bằng tiền (Trực tiếp); (ii) chiết khấu: cấp tín dụng bằng tiền (Gián tiếp); (iii) cho thuê: cấp tín dụng bằng tài sản; (iiii) bảo lãnh: cấp tín dụng bằng uy tín. Thứ hai, căn cứ vào mục đích của khoản tín dụng chia thành: (i) tín dụng sản xuất, kinh doanh, đầu tư; (ii) tín dụng tiêu dùng.
Thứ ba, căn cứ vào bảo đảm tín dụng chi thành: (i) tín dụng không có bảo đảm; (ii) tín dụng có bảo đảm, bao gồm: tín dụng thế chấp, tín dụng cầm cố và tín dụng bảo lãnh của của bên thứ ba. Thứ tư, căn cứ vào thời hạn chi thành: (i) tín dụng ngắn hạn: thời hạn cho vay dưới một năm; (ii) tín dụng trung và dài hạn: thời hạn trên một năm, bao gồm: tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1 đến 5 năm và tín dụng dài hạn có thời hạn trên 5 năm. 5 Thứ năm, căn cứ vào phương thức hoàn trả chi thành: (i) tín dụng phi trả góp; (ii) tín dụng trả góp; (iii) tín dụng tuần hoàn. Thứ sáu, căn cứ vào nguồn gốc khoản tín dụng chi thành: (i) tín dụng trực tiếp; (ii) tín dụng gián tiếp, bao gồm: chiết khấu và bao thanh toán (Factoring).
Đối với ngân hàng thương mại, cấp tín dụng là hoạt động cơ bản nhất, nó thể hiện quan hệ vay mượn dưới hình thức tiền tệ giữa một bên là ngân hàng - tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Trong đó, ngân hàng đóng vai trò là người cho vay, còn các tổ chức, cá nhân là người đi vay. Có thể hiểu khái niệm tín dụng của NHTM như sau: iiHinh thức cấp tín dụng của ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụngmột khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác ” [2, tr. Tùy theo mục đích nghiên cứu, quản lý người ta phân loại hoạt động cho vay của NHTM thành nhiều loại khác nhau, theo những tiêu thức khác nhau.
Đặc biệt, ngày nay từ yêu cầu phát triển liên tục của hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động cho vay của ngân hàng nói riêng nhiều hình thức cho vay mới ra đời để đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày càng đa dạng của nền kinh tế. Có thể khái quát một số tiêu thức phân loại hoạt động cho vay của NHTM như sau: - Căn cứ theo đối tượng khách hàng. - Căn cứ theo thời hạn cho vay. - Căn cứ hình thức bảo đảm.
- Căn cứ phương thức hoàn trả. - Căn cứ mục đích sử dụng vốn. Tuy nhiên, trong phạm vi của đề tài chỉ đề cập đến hình thức cho vay tiêu dùng của NHTM. Cho vay tiêu dùng (CVTD) là một trong những hình thức cho vay của NHTM hiện nay.
Có thể hiểu khái niệm CVTD như sau: "CVTD là một hình thức tín dụng, 6 qua đó ngân hàng cho khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình vay một lượng tiền nhất định để mua hàng hóa hay dịch vụ sử dụng vào mục đích tiêu dùng. Vay tiêu dùng là một nguồn tài chính quan trọng giúp cá nhân và hộ gia đình trang trải nhu cầu về nhà ở, mua sắm phương tiện đi lại, đồ dùng gia đình hay những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế, du lịch,. mà không phục vụ trực tiếp cho mục đích sản xuất kinh doanh ” [2,tr. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng • Lãi suất cho vay kém linh hoạt: CVTD vẫn được các ngân hàng coi là khoản mục mang lại lợi nhuận khá cao với lãi suất “cứng nhắc”.
Điều đó có nghĩa là nó đủ để bù đắp chi phí huy động vốn của ngân hàng, không như hầu hết các khoản vay kinh doanh hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, như vậy với cho vay tiêu dùng ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên. Tuy nhiên, các khoản vay này thường được định giá rất cao (vì đã bao hàm cả một phần bù rủi ro lãi suất) đến mức mà bản thân lãi suất vay vốn trên thị trường lẫn tỷ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản tín dụng tiêu dùng mới không mang lại lợi nhuận. • CVTD có tính nhạy cảm theo chu kỳ: CVTD tăng lên trong thời kỳ nền kinh tế mở rộng, khi mà công chúng cảm thấy lạc quan về sự phát triển của nền kinh tế, về thu nhập tương lai của họ, khi đó họ tăng cường tiêu dùng và vay ngân hàng để tiêu dùng. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, khi đó nhiều cá nhân và hộ gia đình cảm thấy không tin tưởng, nhất là khi họ thấy tình trạng thất nghiệp tăng lên và họ sẽ hạn chế tiêu dùng cũng như vay mượn từ ngân hàng.
• Số lượng món vay nhiều nhưng giá trị mỗi món vay nhỏ: Nếu so sánh với các món vay của doanh nghiệp thì các món vay tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình thường có giá trị nhỏ hơn rất nhiều, do các khoản vay này chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như: mua nhà, sửa nhà, mua sắm phương tiện đi lại, đồ gia dụng,. Các khoản vay tiêu dùng phát sinh thường xuyên, với số lượng giao dịch lớn, do đó chi phí quản lý các khoản vay tiêu dùng thường lớn. 7 • Đối tượng cho vay đa dạng: Đối tượng khách hàng của loại hình cho vay này thường là những người có thu nhập ổn định, tuy nhiên có rất nhiều đối tượng khác nhau: - Đối tượng có thu nhập thấp: những người này thường ít có nhu cầu vay vốn, và nếu vay chỉ nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu hay để thanh toán các khoản chi phí như: học phí, viện phí chữa bệnh,. - Đối tượng có thu nhập trung bình: nhu cầu vay vốn của nhóm đối tượng này thường chi ếm tỷ trọng lớn trong CVTD c ủa ngân hàng, họ thường mong mu ốn tiêu dùng nhằm cải thiện đời sống trước khi họ tích lũy đủ tài chính.
Với nhóm đối tượng này thường vay với mục đích mua nhà, sửa nhà, các phương tiện thông thường,. - Đối tượng có thu nhập cao: nhu cầu vay tiền của nhóm đối tượng này không cao như nhóm có thu nhập trung bình nhưng họ coi việc vay tiêu dùng như một khoản sinh hoạt để chi tiêu trước khi có khoản tích lũy hay lợi nhuận từ đầu tư mang lại, họ thường sử dụng vốn vay vào các nhu cầu xa xỉ hơn như: mua ô tô, du lịch nước ngoài,. • Độ rủi ro cao: Thông thường CVTD thường cho vay tín chấp là chủ yếu, người vay thường là cán bộ công nhân viên, họ sử dụng thu nhập thường xuyên từ lương và các nguồn thu nhập ổn định khác để làm nguồn trả nợ và lãi. Tuy nhiên, nguồn thu nhập này lại có thể thay đổi nhanh chóng phụ thuộc vào tình trạng công việc, sức khỏe của bản thân khách hàng vay vốn.
Có nghĩa là, ngân hàng sẽ đối mặt với rủi ro của các khoản vay khi khách hàng lâm vào tình trạng thất nghiệp, thu nhập từ lương và các nguồn khác giảm sút, hay khách hàng gặp tại nạn,. khiến họ suy giảm hoặc mất khả năng thanh toán các khoản nợ ngân hàng. Ngoài ra, các thông tin về thu nhập của khách hàng nhiều khi bị giấu kín do liên quan đến thông tin cá nhân và doanh nghiệp nơi khách hàng làm việc, hay thông tin về các khoản thu nhập ngoài lương của họ thường rất khó thu thập để xác minh và thẩm định. Vì vậy, các khoản vay tiêu dùng thường được quản lý chặt chẽ, thường xuyên hơn.
8 • Khó kiểm soát được mục đích sử dụng vốn: Đối với mỗi khoản vay nói chung việc kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay là rất cần thiết, điều đó đảm bảo cho nguồn tiền vay được khách sử dụng đúng mục đích như trong phương án cho vay hay không, từ đó đảm bảo cho nguồn trả nợ sau này. Tuy nhiên, không giống như cho vay đối với doanh nghiệp, các món CVTD thường không có chứng từ, hóa đơn kèm theo. Vì vậy, việc kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay là khá khó khăn. Phân loại cho vay tiêu dùng 1.
Phân loại cho vay tiêu dùng theo mục đích Căn cứ vào mục đích vay, cho vay tiêu dùng được chia làm 2 loại: - Cho vay tiêu dùng cư trú: cho vay tiêu dùng cư trú là khoản vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hộ gia đình. - Cho vay tiêu dùng phi cư trú: cho vay tiêu dùng phi cư trú là khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phi mua sắm, xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch. Căn cứ phương thức hoàn trả Căn cứ vào phương thức hoàn trả thì gồm có cho vay tiêu dùng trả góp và phi trả góp. Trong đó thì cho vay tiêu dùng trả góp chiếm tỷ lệ rất lớn.
Vì người ta thấy rằng định kỳ trả như vậy thì sẽ thuận lợi hơn là trả gốc và lãi một lần. - Cho vay tiêu dùng trả góp: nó là các khoản vay ngắn hoặc trung hạn được thanh toán làm hai hoặc nhiều lần liên tiếp (có thể theo tháng hoặc quý). Khoản vay này thường được tài trợ cho nhu cầu mua sắm đối với những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài.