Luận văn: Giải pháp cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại MB Bank Thanh Xuân

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp phát triển cho vay DNVVN tại Ngân hàng Quân Đội (MB) chi nhánh Thanh Xuân.

Trường đại học

Học Viện Ngân Hàng

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2013

107
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1.1. Đặc điểm của DNV&N

1.1.2. Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế

1.1.3. Các nguồn huy động vốn của DNV&N

1.2. CHO VAY NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNV&N

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của cho vay Ngân hàng

1.2.2. Vai trò của cho vay Ngân hàng đối với sự phát triển của DNV&N

1.2.3. Sự tiếp cận vốn tín dụng Ngân hàng của các DNV&N

1.3. PHÁT TRIỂN CHO VAY NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DNV&N

1.3.1. Cơ sở để phát triển cho vay Ngân hàng

1.3.2. Sự cần thiết của phát triển cho vay Ngân hàng đối với DNV&N

1.3.3. Các tiêu thức đánh giá mức độ phát triển cho vay Ngân hàng đối với DNV&N

1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển cho vay đối với DNV&N

1.4. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN CHO VAY DNV&N Ở MỘT SỐ QUỐC GIA

1.4.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc

1.4.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản

1.4.3. Kinh nghiệm của các nước châu Âu

1.4.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH THANH XUÂN

2.1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CHI NHÁNH

2.1.1. Vài nét về tình hình kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội trong năm 2012

2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh

2.1.3. Cơ cấu tố chức của chi nhánh

2.1.4. Một số nét về tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh

2.2. TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN TẠI CHI NHÁNH

2.2.1. Về công tác huy động vốn

2.2.2. Về tình hình sử dụng vốn

2.3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CHI NHÁNH ĐỐI VỚI DNV&N

2.3.1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Hà Nội

2.3.2. Tình hình hoạt động tín dụng đối với DNV&N tại chi nhánh

2.4. Đánh giá chung về thực trạng hoạt động phát triển cho vay DNV&N tại chi nhánh Thanh Xuân

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN CHO VAY DNV&N TẠI NGÂN HÀNG QUÂN ĐỘI - CHI NHÁNH THANH XUÂN

3.1. ĐỊNH HƯỚNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNV&N

3.1.1. Chủ trương phát triển DNV&N của thành phố Hà Nội

3.1.2. Định hướng tín dụng đối với các DNV&N của NH MB - chi nhánh Thanh Xuân

3.1.3. Định hướng của NH Quân Đội - chi nhánh Thanh Xuân

3.2. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI DNV&N TẠI CHI NHÁNH

3.2.1. Nâng cao chất lượng công tác huy động vốn

3.2.2. Xây dựng chính sách tín dụng đối với DNV&N phù hợp với yêu cầu phát triển cho vay

3.2.3. Thực hiện chính sách khách hàng đặc biệt đối với các DNV&N, thiết lập một chiến lược Marketing hướng tới DNV&N

3.2.4. Nâng cao chất lượng thẩm định và đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát

3.2.5. Cải tiến quy trình tín dụng, thủ tục hồ sơ cho vay theo hướng đơn giản hóa, linh hoạt và thuận lợi cho các DNV&N

3.2.6. Bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ tín dụng

3.2.7. Tạo lập và duy trì các mối quan hệ

3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHO VAY DNV&N

3.3.1. Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ ban ngành có liên quan

3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước

3.3.3. Kiến nghị với NH Quân Đội Việt Nam

3.3.4. Kiến nghị đối với DNV&N

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan chiến lược phát triển cho vay DNVVN tại MB Bank

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) được xác định là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế, đóng góp hơn 40% GDP và tạo ra phần lớn việc làm. Nhận thức rõ vai trò này, việc xây dựng giải pháp phát triển cho vay DNVVN tại MB Bank không chỉ là mục tiêu kinh doanh mà còn là nhiệm vụ chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và chiếm lĩnh thị phần cho vay DNVVN. Hoạt động này giúp ngân hàng đa dạng hóa danh mục tín dụng, giảm sự phụ thuộc vào các khách hàng lớn và mở ra một nguồn thu bền vững. Đối với DNVVN, việc tiếp cận được nguồn vốn tín dụng ngân hàng là yếu tố sống còn, giúp họ mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và vượt qua những giai đoạn khó khăn về dòng tiền. Tuy nhiên, thực tế cho thấy chỉ một phần nhỏ DNVVN tiếp cận được nguồn vốn chính thức. Theo tài liệu nghiên cứu, "chỉ có chưa đến 50% DN ngoài quốc doanh tiếp cận được vốn NH". Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết cho MB Bank phải có một chiến lược toàn diện, từ việc hoàn thiện sản phẩm đến tối ưu hóa quy trình, nhằm khai thác hiệu quả phân khúc khách hàng đầy tiềm năng này. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một hệ sinh thái cộng sinh, nơi ngân hàng đạt được tăng trưởng tín dụng an toàn và DNVVN có đủ nguồn lực để phát triển, qua đó thúc đẩy nền kinh tế chung. Các giải pháp phát triển cho vay DNVVN tại MB Bank cần được xây dựng dựa trên sự thấu hiểu sâu sắc những đặc điểm và khó khăn riêng của khối doanh nghiệp này.

1.1. Vai trò của tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế

Phân khúc tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa là huyết mạch của nền kinh tế. Các DNVVN chiếm tới 96,5% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, đóng góp đáng kể vào GDP và ngân sách nhà nước. Quan trọng hơn, đây là khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất, góp phần ổn định xã hội và giảm tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt tại các khu vực nông thôn. Việc cung cấp vốn cho DNVVN không chỉ giúp từng doanh nghiệp phát triển mà còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ và tăng sức cạnh tranh tổng thể. Khi DNVVN được hỗ trợ vốn, họ có khả năng đầu tư vào công nghệ mới, cải thiện chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường, từ đó trở thành tiền đề cho sự hình thành các doanh nghiệp lớn trong tương lai.

1.2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay tại MB

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, việc nâng cao chất lượng dịch vụ là yếu tố quyết định để thu hút khách hàng doanh nghiệp. DNVVN không chỉ cần vốn, họ còn cần một đối tác tài chính tin cậy, thấu hiểu và đồng hành. Điều này đòi hỏi MB Bank phải vượt ra ngoài vai trò của một nhà cho vay đơn thuần để trở thành một nhà tư vấn. Chất lượng dịch vụ được thể hiện qua tốc độ xử lý hồ sơ, thái độ chuyên nghiệp của nhân viên, và sự linh hoạt trong các điều khoản tín dụng. Một dịch vụ tốt sẽ tạo ra lòng trung thành của khách hàng, giúp ngân hàng giữ chân các DNVVN tiềm năng và biến họ thành khách hàng sử dụng đa dịch vụ, từ thanh toán quốc tế đến quản lý dòng tiền, qua đó gia tăng hiệu quả kinh doanh.

II. Phân tích thách thức trong hoạt động cho vay DNVVN tại MB Bank

Mặc dù là phân khúc tiềm năng, hoạt động cho vay DNVVN tại MB Bank phải đối mặt với không ít thách thức cố hữu. Rào cản lớn nhất đến từ chính đặc điểm của các DNVVN: năng lực tài chính yếu, thiếu minh bạch và thiếu tài sản đảm bảo. Theo nghiên cứu, "hầu hết các DNVVN có quy mô kinh doanh không lớn, không có tài sản đảm bảo để vay vốn". Điều này gây khó khăn rất lớn cho công tác thẩm định khách hàng DNVVNquản lý rủi ro tín dụng. Các báo cáo tài chính của DNVVN thường không được kiểm toán, thông tin thiếu tin cậy, khiến ngân hàng khó có cơ sở chính xác để ra quyết định cấp tín dụng. Bên cạnh đó, trình độ quản trị của nhiều chủ doanh nghiệp còn hạn chế, dẫn đến các phương án kinh doanh thiếu tính khả thi. Về phía ngân hàng, quy trình tín dụng hiện tại có thể còn phức tạp, chưa thực sự linh hoạt để đáp ứng nhu cầu cấp bách của DNVVN. Áp lực cạnh tranh từ các ngân hàng thương mại khác cũng buộc MB Bank phải liên tục đổi mới nếu không muốn mất đi thị phần cho vay DNVVN. Việc tìm ra lời giải cho bài toán cân bằng giữa tăng trưởng tín dụng và kiểm soát rủi ro là thách thức cốt lõi đòi hỏi các giải pháp phát triển cho vay DNVVN tại MB Bank phải thực sự toàn diện và đột phá.

2.1. Hạn chế về năng lực tài chính và tài sản đảm bảo của DNVVN

Một trong những rào cản chính là năng lực tài chính hạn chế của DNVVN. Phần lớn doanh nghiệp hoạt động với vốn điều lệ thấp, dòng tiền không ổn định và khả năng tích lũy kém. Theo khảo sát được trích dẫn, "50% DN có vốn dưới 1 tỷ đồng, 75% DN có vốn dưới 2 tỷ đồng". Vấn đề nghiêm trọng hơn là sự thiếu hụt tài sản đảm bảo có giá trị cao như bất động sản, nhà xưởng. Điều này khiến DNVVN khó đáp ứng các điều kiện cho vay truyền thống của ngân hàng, vốn xem tài sản thế chấp là một công cụ quan trọng để phòng ngừa rủi ro. Việc thiếu tài sản đảm bảo không chỉ hạn chế khả năng tiếp cận vốn mà còn ảnh hưởng đến hạn mức tín dụng được cấp.

2.2. Khó khăn trong công tác thẩm định khách hàng DNVVN

Công tác thẩm định khách hàng DNVVN phức tạp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn. Nguyên nhân chính là do hệ thống thông tin kế toán, tài chính của DNVVN thường thiếu chuẩn mực, không đầy đủ và thiếu minh bạch. Nhiều doanh nghiệp tồn tại song song hai hệ thống sổ sách, gây khó khăn cho cán bộ tín dụng trong việc đánh giá chính xác tình hình kinh doanh và khả năng trả nợ. Thêm vào đó, việc phân tích các yếu tố phi tài chính như năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp, uy tín trên thị trường đòi hỏi cán bộ thẩm định phải có kinh nghiệm sâu sắc và tốn nhiều thời gian. Những yếu tố này làm tăng chi phí hoạt động và kéo dài thời gian ra quyết định tín dụng.

III. Giải pháp tối ưu chính sách và sản phẩm cho vay DNVVN

Để vượt qua các thách thức, giải pháp phát triển cho vay DNVVN tại MB Bank cần bắt đầu từ việc tối ưu hóa chính sách và sản phẩm. Trọng tâm là phải đa dạng hóa sản phẩm cho vay để phù hợp với đặc thù của từng ngành nghề và chu kỳ kinh doanh. Thay vì các gói vay cứng nhắc, MB Bank có thể phát triển các sản phẩm chuyên biệt như cho vay theo chuỗi cung ứng, tài trợ xuất nhập khẩu, hoặc cho vay dựa trên dòng tiền. Đặc biệt, việc xây dựng một chính sách lãi suất ưu đãi và cạnh tranh là công cụ hữu hiệu để thu hút khách hàng doanh nghiệp. Chính sách này có thể đi kèm các điều kiện linh hoạt về tài sản đảm bảo, chấp nhận các loại tài sản đa dạng hơn như hàng tồn kho, các khoản phải thu. Tài liệu gốc cũng đề xuất "thực hiện chính sách khách hàng đặc biệt đối với các DNVVN", theo đó những khách hàng có lịch sử tín dụng tốt sẽ được hưởng lãi suất thấp hơn và thủ tục đơn giản hơn. Việc ra mắt các gói sản phẩm như sản phẩm Biz MBBank cần được truyền thông mạnh mẽ, nhấn mạnh vào lợi ích thiết thực như giải ngân nhanh, thủ tục tinh gọn để đáp ứng đúng nhu cầu "khát vốn" của DNVVN. Một chính sách sản phẩm thông minh sẽ là nền tảng để MB Bank nâng cao năng lực cạnh tranh trong phân khúc quan trọng này.

3.1. Xây dựng chính sách lãi suất ưu đãi và linh hoạt

Một chính sách lãi suất ưu đãi là yếu tố cạnh tranh hàng đầu. MB Bank có thể xây dựng các bậc lãi suất khác nhau dựa trên mức độ tín nhiệm, thời gian quan hệ và việc sử dụng các dịch vụ khác của doanh nghiệp. Ví dụ, các DNVVN có quan hệ tín dụng tốt từ 2 năm trở lên có thể được giảm lãi suất. Sự linh hoạt còn thể hiện ở việc áp dụng các mức phí dịch vụ ưu đãi cho khách hàng vay vốn, tạo ra một gói lợi ích tổng thể hấp dẫn. Điều này không chỉ giúp thu hút khách hàng doanh nghiệp mới mà còn giữ chân khách hàng hiện hữu, tăng cường sự gắn kết lâu dài.

3.2. Đa dạng hóa sản phẩm cho vay phù hợp với từng ngành nghề

Việc đa dạng hóa sản phẩm cho vay là giải pháp chiến lược để đáp ứng nhu cầu đặc thù của DNVVN. Ngân hàng cần nghiên cứu và thiết kế các gói vay riêng cho doanh nghiệp ngành sản xuất, thương mại, dịch vụ hay xây dựng. Ví dụ, cho vay bổ sung vốn lưu động theo mùa vụ cho doanh nghiệp nông sản, hoặc tài trợ các hợp đồng xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp thương mại. Việc chấp nhận các hình thức bảo đảm linh hoạt hơn như bảo lãnh của bên thứ ba, hay tài sản hình thành từ vốn vay cũng là một hướng đi cần thiết để gỡ bỏ rào cản về tài sản đảm bảo cho DNVVN.

IV. Phương pháp cải tiến quy trình và quản lý rủi ro tín dụng

Song song với việc cải tiến sản phẩm, một giải pháp phát triển cho vay DNVVN tại MB Bank hiệu quả phải tập trung vào việc cải tiến quy trình và nâng cao năng lực quản lý rủi ro tín dụng. Yêu cầu cốt lõi là phải đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm bớt các giấy tờ không cần thiết và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ. Việc số hóa quy trình cho vay là xu hướng tất yếu, giúp tự động hóa một số khâu trong thẩm định, giảm thiểu sai sót do con người và cho phép giải ngân nhanh chóng. Ứng dụng công nghệ để xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng (credit scoring) riêng cho DNVVN sẽ giúp ngân hàng đưa ra quyết định khách quan và nhất quán hơn. Theo tài liệu, một trong những giải pháp quan trọng là "nâng cao chất lượng thẩm định và đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát". Điều này đòi hỏi phải đầu tư vào việc đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ tín dụng, giúp họ có đủ kỹ năng để phân tích sâu hơn về mô hình kinh doanh và tiềm năng của DNVVN, thay vì chỉ dựa vào báo cáo tài chính. Một quy trình tinh gọn kết hợp với một hệ thống quản trị rủi ro vững chắc sẽ là chìa khóa để đánh giá hiệu quả cho vay và đảm bảo tăng trưởng tín dụng bền vững.

4.1. Số hóa quy trình cho vay để đơn giản hóa thủ tục

Ứng dụng công nghệ là giải pháp đột phá để cải tiến quy trình. Việc số hóa quy trình cho vay bao gồm việc cho phép doanh nghiệp nộp hồ sơ trực tuyến, sử dụng chữ ký số và theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ qua ứng dụng. Hệ thống có thể tự động kiểm tra thông tin cơ bản, sàng lọc hồ sơ và hỗ trợ cán bộ tín dụng trong việc ra quyết định. Mục tiêu cuối cùng của việc đơn giản hóa thủ tục vay vốn là giảm thời gian chờ đợi cho khách hàng, nâng cao trải nghiệm và giải phóng nguồn lực của ngân hàng để tập trung vào các nghiệp vụ phức tạp hơn như phân tích chuyên sâu và chăm sóc khách hàng.

4.2. Nâng cao năng lực thẩm định và quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro tín dụng là nền tảng cho sự phát triển bền vững. MB Bank cần xây dựng một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ dành riêng cho DNVVN, kết hợp cả yếu tố tài chính và phi tài chính. Đồng thời, công tác kiểm tra, giám sát sau cho vay phải được đẩy mạnh để sớm phát hiện các dấu hiệu bất thường và có biện pháp can thiệp kịp thời. Việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ tín dụng là yếu tố con người then chốt, giúp họ có khả năng nhận diện rủi ro tiềm ẩn và đưa ra những tư vấn xác đáng cho cả ngân hàng và doanh nghiệp.

V. Kiến nghị và lộ trình triển khai giải pháp cho vay DNVVN

Để các giải pháp phát triển cho vay DNVVN tại MB Bank đi vào thực tiễn, cần có một lộ trình triển khai rõ ràng và sự phối hợp đồng bộ. Trước hết, về phía Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ, cần tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý, đặc biệt là các chính sách về Quỹ bảo lãnh tín dụng để hỗ trợ DNVVN. Tài liệu gốc đã chỉ ra bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc và Nhật Bản về vai trò của các quỹ này. Về phía MB Bank, ngân hàng cần thành lập một bộ phận chuyên trách nghiên cứu và phát triển sản phẩm dành riêng cho DNVVN. Lộ trình triển khai có thể chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn 1: Rà soát và đơn giản hóa thủ tục vay vốn hiện hành, đồng thời triển khai các chương trình đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ tín dụng. Giai đoạn 2: Số hóa quy trình cho vay, xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng và thí điểm các gói sản phẩm mới. Giai đoạn 3: Mở rộng triển khai trên toàn hệ thống, đa dạng hóa sản phẩm cho vay và đẩy mạnh các hoạt động marketing để thu hút khách hàng doanh nghiệp. Việc đánh giá hiệu quả cho vay cần được thực hiện định kỳ để có những điều chỉnh kịp thời, đảm bảo các giải pháp mang lại hiệu quả thực chất, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng tín dụng và khẳng định vị thế dẫn đầu của MB Bank.

5.1. Kiến nghị hoàn thiện môi trường pháp lý và quỹ bảo lãnh tín dụng

Môi trường pháp lý thuận lợi là điều kiện tiên quyết. Các kiến nghị cần tập trung vào việc Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần có những cơ chế, chính sách cụ thể để khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay DNVVN. Đặc biệt, cần nhanh chóng triển khai và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Quỹ bảo lãnh tín dụng. Theo kinh nghiệm quốc tế, quỹ này sẽ đứng ra bảo lãnh cho các khoản vay thiếu tài sản đảm bảo, giúp DNVVN dễ dàng tiếp cận vốn hơn và giảm bớt rủi ro cho ngân hàng. Đây là giải pháp vĩ mô quan trọng tạo đòn bẩy cho các nỗ lực của từng ngân hàng thương mại.

5.2. Xây dựng lộ trình triển khai và đánh giá hiệu quả cho vay

Một kế hoạch hành động cụ thể là cần thiết. MB Bank cần xây dựng một lộ trình chi tiết với các mục tiêu, thời gian và bộ phận chịu trách nhiệm rõ ràng cho từng giải pháp. Sau mỗi giai đoạn, cần thực hiện việc đánh giá hiệu quả cho vay thông qua các chỉ số cụ thể như: tốc độ tăng trưởng dư nợ DNVVN, tỷ lệ nợ xấu, mức độ hài lòng của khách hàng và lợi nhuận mang lại. Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở để tối ưu hóa các giải pháp, đảm bảo chiến lược phát triển cho vay DNVVN của MB Bank luôn đi đúng hướng và đạt được mục tiêu đề ra.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

01/10/2025
676 giải pháp phát triển cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại cổ phần quân đội chi nhánh thanh xuân luận văn thạc sĩ kinh tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Khái niệm DNV&N DN là một tổ chức hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế, nhưng để đưa ra một khái niệm cụ thể về DN thì lại có nhiều quan điểm khác nhau. Theo DLarue- Acitlat: “DN là một đơn vị sản xuất và là một đơn vị phân phối.

DN là một hệ thống mở, có mục tiêu và quản lý theo hướng tạo ra lợi nhuận hùng mạnh, vĩnh cửu. Còn theo Luật DN hiện hành của Việt Nam: “DN là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng kí kinh doanh theo qui định của phát luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh”.Như vậy DN được hiểu là một tổ chức hoạt động kinh tế có tư cách pháp nhân, được thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một lĩnh vực nhất định với mục đích thu được lợi nhuận hoặc công ích. Trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều DN ta có thể phân theo một số các tiêu thức: - Theo qui mô sản xuất hoạt động: DN qui mô lớn, DN quy mô vừa và nhỏ. - Theo cấp quản lý: DN trung ương, DN địa phương, DN tư nhân, DN sở hữu hỗn hợp.

- Theo ngành kinh tế kỹ thuật: DN ngành công nghiệp, DN ngành thương mại và dịch vụ, DN ngành nông lâm nghiệp, DN ngành tài chính, DN ngành phi tài chính. DNV&N là 1 một hình thức DN, mang những đặc điểm chung giống như các loại hình DN khác nhưng lại có những đặc điểm riêng mà chỉ có ở những DN qui mô vừa và nhỏ. Tùy vào điều kiện của từng nước khác nhau thì 4 có các phân định DNV&N khác nhau nhưng để chính xác thường phải dựa vào vốn tự có, số lượng người lao động làm việc trong DN, giá trị tài sản cố định của DN. Ví dụ theo quan điểm của Mỹ, mức lợi nhuận hàng năm dưới 150.000USD được coi là DNV&N, theo quan điểm của Thái Lan, DN vừa là DN có từ 50 đến 200 lao động, DN nhỏ là DN có dưới 50 lao động.

Còn ở Việt Nam theo Nghị định 90/2001/NĐ- CP của Chính phủ ban hành ngày 23/11/2001 thì DNV&N được hiểu: “ DNV&N là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng, hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người ”. Theo nghị định này thì DNV&N sẽ bao gồm các DN hoạt động theo luật DN Nhà nước, các DN hoạt động theo luật DN, các hợp tác xã hoạt động theo luật Hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể. Đặc điểm của DNV&N DNV&N cũng là một tổ chức kinh tế, ngoài những đặc trưng vốn có của một DN thì nó cũng mang những đặc trưng riêng xuất phát từ chính khái niệm. Một là, DNV&N có vốn đầu tư ban đầu không lớn (không quá 10 tỉ đồng), khả năng thu hồi vốn nhanh.

Theo qui định, để thành lập một DNV&N chỉ cần một số vốn ban đầu tương đối ít (dưới 10 tỉ đồng). Đồng thời chu kì kinh doanh ngắn, diễn biến theo mùa nên thời gian hoàn vốn ngắn hơn so với những tổ chức kinh tế có qui mô lớn, không tồn tại tình trạng vốn ứ đọng quá lâu, dễ dàng chuyển hướng đầu tư dẫn đến hiệu quả kinh tế cao. Hai là, DNV&N có quy mô vốn và lao động nhỏ, năng lực tài chính thấp. Theo kết quả khảo sát điều tra hơn 63 ngàn DN tại 30 tỉnh thành phố phía Bắc cho thấy số vốn của DNV&N còn rất thấp: 50% DN có vốn dưới 1 tỷ đồng, 75% DN có vốn dưới 2 tỷ đồng, 90% DN có vốn dưới 5 tỷ đồng.

Đa phần DNV&N luôn lâm vào tình trạng “ khát vốn” do vốn tự có thì ít, 5 những kênh huy động vốn thì yếu kém. Thêm vào đó, hầu hết các DNV&N có quy mô kinh doanh không lớn, không có tài sản đảm bảo để vay vốn, việc chuyển giao quyền sở hữu về vốn góp bằng tài sản chưa rõ ràng minh bạch, uy tín, hiệu quả sử dụng vốn thì chưa cao nên doanh thu, lợi nhuận, khả năng tính lũy cũng bị ảnh hưởng hạn chế. Năm 2009, lợi nhuận bình quân của DNV&N là 240 triệu đồng, thấp hơn nhiều so với mức lợi nhuận bình quân/ DN của cả nước (khoảng 1,14 tỷ đồng). Năm 2010, các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận/ vốn và lợi nhuận/ doanh thu cũng thấp, ở mức 3 tỷ đồng và 2, 57 tỷ đồng so với mức bình quân chung của các DN cả nước là 4,86 tỷ đồng và 5,99 tỷ đồng (Vneconomy, 2010).

Do nguồn năng lực tài chính còn yếu nên chưa tạo lòng tin với nhà đầu tư. Ba là, DNV&N chủ yếu là DN ngoài quốc doanh, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ và linh hoạt. Số lượng lao động ít (dưới 300 lao động), cơ cấu tổ chức đơn giản ít cấp bậc khiến cho DNV&N linh hoạt, dễ thay đổi cho phù hợp với nhu cầu thị trường. Hơn nữa, chủ sở hữu của DNV&N thường cũng là người quản lí của DN nên họ sẽ được tự do hoạt động, nhanh chóng chớp lấy những cơ hội kinh doanh thuận lợi và tự quyết những vấn đề mang tính định hướng và sống còn một cách nhanh chóng như thay đổi nhân sự, đổi hướng kinh doanh.

Trong khi DN lớn thì thiếu sự linh động, khó phản ứng kịp với biến động của thị trường thì về mặt này DNV&N thể hiện tính ưu việt hơn cả. Đồng thời do quy mô khiêm tốn của mình mà DNV&N có thể hoạt động trong cả những lĩnh vực mà nhiều DN lớn không muốn tham gia hoặc không thể vươn tới tạo ra một lượng cung hàng hóa đầy đủ, kịp thời dù là nhỏ nhất của xã hội. Bốn là, nguồn tài chính của các DNV&N còn hạn hẹp, thiết bị công nghệ lạc hậu. Xuất phát từ nguồn vốn nhỏ nên các DNV&N ở Việt Nam thường không có điều kiện trang bị máy móc, thiết bị hiện đại.

Theo ông 6 Phùng Xuân Nhạ (2009), hệ thống máy móc của các DNV&N lạc hậu khoảng 20 năm đối với ngành điện tử, 25 năm so với ngành cơ khí, 70% công nghệ dệt may đã được sử dụng 20 năm. Theo Bộ Lao động và thương binh xã hội thì 76% thiết bị máy móc tại các DNV&N hiện đang sử dụng là từ những năm 1950 hay 1960, hơn 70% đã khấu hao hết, gần 50% máy móc cũ được tân trang lại. Công nghệ lạc hậu làm tăng chi phí tiêu hao 1,5 lần so với định mức tiêu chuẩn của thế giới. Kết quả là năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, chi phí đầu vào cao dẫn đến giá thành cao, khó cạnh tranh.

Kết quả điều tra cũng cho thấy có 41,3% DN có kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh trong năm tới, 52,4% DN dự định giữ nguyên quy mô sản xuất kinh doanh như hiện nay và chỉ có 6,3% DN muốn thu hẹp sản xuất. Điều này chứng tỏ DN luôn có nhu cầu mở rộng và đổi mới nhưng vấn đề về vốn vẫn luôn là yếu tố cản trở khiến DNV&N đã cũ nay lại càng cũ hơn với tỷ lệ đổi mới chỉ ở mức 5-7 % /năm so với 20% của thế giới. Năm là, trình độ quản lý của ban quản lý các DNV&N còn yếu kém, tay nghề của người lao động chưa cao, khó có khả năng thu hút đc nhân tài. Như đã trình bày ở trên, hầu hết DNV&N đều có chủ sở hữu đồng thời là người quản lý.

Điều này có cái lợi mà cũng có cái hại cho bản thân DN vì theo điều tra thì trong tổng số các chủ DNV&N chỉ có 1% có trình độ sau đại học, 3% có trình độ đại học. Điều này khiến đặt nghi vấn cho năng lực quản lý của chính những chủ DN chưa qua đào tạo, chưa có kinh nghiệm này. Trong khi khả năng thu hút các nhà quản lý giỏi, nhân tài từ các lĩnh vực về với DNV&N là rất ít vì nguồn tài chính eo hẹp, sức hấp dẫn về môi trường làm việc là không lớn, những ưu đãi đối với nhân lực là gần như không có. Bên cạnh đó, ngay cả người lao động trong các DN này thì chủ yếu đều là dân địa phương, tay nghề kém, ít được đào tạo, bồi dưỡng tay nghề do kinh phí eo hẹp.

Với thực trạng nguồn lực như thế đã và đang gây ảnh hưởng đến quá trình chuyển giao và tiếp nhận quy trình kỹ thuật đồng bộ hiện đại cần thiết. Vai trò của DNV&N trong nền kinh tế Tại nhiều quốc gia, kể cả những nước phát triển, những nước đang phát triển, những nước kém phát triển, tỷ trọng DNV&N thường là một con số đáng kể. Với một nước có nền kinh tế phát triển như nước Mỹ có đến 99,7% tổng số hãng kinh doanh có thuê nhân công là DN nhỏ, tạo đc 75% số việc làm mới và chiếm 96% tổng số các nhà xuất khẩu hàng hóa. Ớ Thái Lan, năm 2008, DNV&N chiếm khoảng 95% tổng số DN công nghiệp, tuyển dụng từ 85% - 90% lực lượng lao động, đóng góp trên 50% GDP, có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm và xuất khẩu, phát triển kinh tế ở các vùng lạc hậu ở Thái Lan.

Còn ở Việt Nam, theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiện nay Việt Nam có gần 350.000 DN, chiếm 96,5% trên tổng số DN. Mỗi năm lại có khoảng 30.000 DN đăng ký và 100.000 hộ kinh doanh cá thể ra đời. Có thể thấy tầm quan trọng của DNV&N đã được các nước thừa nhận, hoạt động và sự phát triển của chúng đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng: Thứ nhất, các DNV&N đóng góp quan trọng vào GDP, Ngân sách Nhà nước và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong thời gian qua, DNV&N đã đóng góp hơn 40% GDP, 29% tổng kinh ngạch xuất khẩu cả nước, 31% tổng sản lượng công nghiệp, đóng góp khoảng 17,46% tổng nộp ngân sách.

Có thể nhận thấy đây là một bộ phận góp phần không nhỏ vào tốc độ tăng sản lượng, đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế. Thứ hai, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Bắt nguồn từ đặc điểm quy mô nhỏ, tính linh hoạt cao nên DNV&N có ưu điểm là có thể hoạt động ở mọi nơi thậm chí cả những vùng chưa phát triển như vùng núi, hải đảo. Tùy vào đặc điểm, thế mạnh của từng vùng lãnh thổ, các DN này hoạt động sản xuất các mặt hàng khác nhau để phục vụ người tiêu dùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ