Chương 1: Cơ sở lý luận phát triển bền vững về môi trường Chương 2: Phân tích hiện trạng thoát nước trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và thực trạng quản lý hệ thống thoát nước. Chương 3: Một số giải pháp đảm bảo sự phát triển bền vững trong lĩnh vực thoát nước trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nguyễn Thị Tâm Lớp QTKD-DK2 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VỀ MÔI TRƢỜNG 1. Tổng quan phát triển bền vững về môi trƣờng 1.
Tăng trƣởng và phát triển Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc gia hay thu nhập quốc dân theo đầu người trong một khoảng thời gian nhất định. Mặc dù đôi khi khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế có thể được sử dụng thay thế cho nhau, phát triển kinh tế là một khái niệm rộng hơn tăng trưởng kinh tế. Trong khi khái niệm tăng trưởng kinh tế là một khái niệm khá rõ ràng ít gây tranh cãi thì khái niệm phát triển luôn luôn là một khái niệm gây ranh cãi cho tất cả các nhà kinh tế học. Điều này không có nghĩa là các nhà khoa học không chú ý nghiên cứu về phát triển.
Trái lại phát triển luôn luôn là mối quan tâm nghiên cứu hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế học và của các nhà xã hội học trên khắp thế giới. Trong một thời gian dài kể từ sau chiến tranh thế giới thứ II, khái niệm phát triển đã được gắn liền với các thước đo về sản lượng và thu nhập quốc dân hay nói cách khác là gắn liền với tăng trưởng kinh tế. Trong thời gian này mặc dù các nhà kinh tế có đề cập đến các vấn đề xã hội cần lưu ý trong phát triển, tăng trưởng kinh tế được đặc biệt coi trọng và tăng trưởng vốn đầu tư được coi là phương tiện để có thể thực hiện mục tiêu phát triển. Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân theo đầu người được coi là thước đo phát triển duy nhất.
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trở thành những thước đo phát triển tin cậy nhất. Khi GNP trở thành mục tiêu của phát triển vào những năm 1950 và 1960, vấn đề phúc lợi xã hội không được chú ý. Người ta cho rằng phúc lợi xã hội là cái tất nhiên theo sau tăng trưởng kinh tế. Mối quan hệ giữa thu nhập và chất lượng cuộc sống được thể hiện qua thu nhập đầu người.
Vào những năm này, các vấn đề môi trường vẫn bị xếp vào hàng thứ yếu. Các chính sách môi trường chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, các Nguyễn Thị Tâm 1 Lớp QTKD-DK2 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ chính sách này nhằm chống lại ô nhiễm cục bộ theo thời gian và không gian, những tổn thất về môi trường không được xử lý. Chính công nghiệp hoá những tác động tốt cho tăng trưởng và tiến bộ khoa học kỹ thuật được đưa lên hàng đầu. Vào những năm 1970, thực tế ở các nước đang phát triển đã chứng tỏ tăng trưởng thu nhập, tự nó không giải quyết được tất cả các vấn đề của phát triển.
Phát triển kinh tế được hiểu theo một nghĩa chung nhất phải bao hàm sự nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống của con người. Với ý nghĩa đó, mặc dù tăng trưởng kinh tế vẫn là điều kiện cần để có thể phát triển, cùng với tăng trưởng kinh tế, phát triển phải bao hàm cả một quá trình chuyển dịch cơ cấu, theo đó tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp và giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc gia. Phát triển còn bao hàm cả qúa trình đô thị hoá và thay đổi cơ cấu dân số theo hướng tăng dân số sống ở thành phố và giảm dân số sống ở nông thôn. Đi kèm với sự phát triển là sự sụt giảm nhanh chống tốc độ tăng trưởng dân số và nâng cao tuổi thọ do chất lượng dịch vụ y tế và giáo dục được nâng cao.
Chính vì quá chú trọng vào phát triển công nghiệp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng mà ít quan tâm đến các vấn đề về môi trường trong một thời gian dài, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Do vậy ngày nay môi trường trên toàn thế giới ô nhiễm hết sức nghiêm trọng. Theo dự báo của các nhà khoa học, nếu tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp như hiện nay, tại Châu Phi sẽ có khoảng 600 triệu người thiếu nước sinh hoạt, sản lượng nông nghiệp sẽ giảm ½, diện tích đất cằn c i tăng 8%, sinh vật Hạ Sahara có nguy cơ tuyệt chủng tăng thêm 10%. Ở Úc và Newzilan sẽ có từ 3 đến 5 ngàn người chết bệnh có liên quan đến nắng nóng.
Đến năm 2030 khu vực Nam Úc sẽ không đủ nước sinh hoạt. Tại Châu Âu, thời tiết khắc nghiệt sẽ xảy ra thường xuyên hơn, đồng thời sẽ xuất hiện nhiều bệnh lạ. Tại Mỹ La tinh có khoảng 77 triệu người thiếu nước sinh hoạt. Các dòng sông băng nhiệt đới sẽ biến mất.
Rừng nhiệt đới sẽ biến thành hoang mạc, nguy cơ lũ lụt tăng cao. Ở Bắc Mỹ tổng lượng băng hà giảm Nguyễn Thị Tâm 2 Lớp QTKD-DK2 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ 20%, điều đó có nghĩa các hòn đảo nhỏ trên thế giới sẽ bị nhấn chìm, 17 triệu dân các vùng duyên hải của Việt Nam sẽ bị thủy triều đe dọa sẽ không có nhà ở và đất canh tác. Cũng theo dự báo của ngân hàng thế giới với đà tiến triển của công nghiệp hoá, đô thị hoá như hiện nay nếu không có biện pháp khắc phục hiệu quả thì đến năm 2030 môi trường sống sẽ bị ô nhiễm nặng nề, vượt mức bình thường từ 5 đến 12 lần. Sự ô nhiễm môi sinh đã, đang và sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người.
Theo tính toán của WHO những gì con người đang kiếm được trong hoạt động kinh tế sẽ không đủ cho họ chuộc lại những gì môi trường đã lấy đi từ sức khoẻ của họ. Không dừng lại ở đó hiệu ứng nhà kính, sự thay đổi khí hậu còn làm cho hiệu quả kinh tế của con người bị suy giảm thậm chí là con số âm. Vì vậy, đã đến lúc cần phải nghiêm túc thật sự coi trọng chất lượng môi trường sống bên cạnh việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Nếu không như vậy kết quả của việc tăng trưởng kinh tế sẽ trở nên vô nghĩa vì tăng trưởng kinh tế không gắn liền với phát triển kinh tế, thậm chí tăng trưởng kinh tế mà không phát triển sẽ là thảm họa.
Do đó tăng trưởng kinh tế phải gắn chặt với bảo vệ môi trường, để đảm bảo phát triển một cách bền vững. Phát triển bền vững và phát triển bền vững về môi trƣờng 1. Phát triển bền vững Theo định nghĩa của Uỷ ban Brundland (Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển 1987) thì phát triển bền vững chính là cố gắng đáp ứng được nhu cầu hôm nay mà không làm tổn hại đến khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ tương lại. Mặc dù định nghĩa của Uỷ ban Brundland là một tuyên bố có ý nghĩa rất lớn trong việc kêu gọi mọi người chú ý tới sự ứng xử công bằng giữa các thế hệ trong việc chia sẽ việc sử dụng các nguồn lực hữu hạn của thế giới, định nghĩa này qúa tổng quát và các nhà kinh tế học, xã hội học và sinh thái học có thể giải thích theo rất nhiều cách khác nhau.
Nguyễn Thị Tâm 3 Lớp QTKD-DK2 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ Trong phần trên chúng ta đã đưa ra khái niệm phát triển trong đó đã bao gồm cả phát triển kinh tế và phát triển xã hội để nâng cao cuộc sống của con người. Phát triển bền vững về bản chất chỉ là một sự mở rộng khái niệm phát triển qua phạm vị thời gian, bao gồm cả các thệ hệ khác nhau. Theo đó phát triển bền vững đòi hỏi trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với sự phát triển của thế hệ mai sau thông qua việc bảo vệ môi trường và giữ gìn tài nguyên cho thế hệ tương lai. Nói một cách khác, phát triển bền vững bao hàm việc lồng ghép vần đề môi trường vào khái niệm phát triển thông thường.
Như vậy, phát triển bền vững được cấu thành bởi 3 thành phần: Phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững về môi trường. Phát triển bền vững của quốc gia dựa vào phát triển bền vững của các địa phương được thể hiện ở hình 1. Sơ đồ phát triển bền vững 1. Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá.
Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự phát triển có mối Nguyễn Thị Tâm 4 Lớp QTKD-DK2 Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Luận văn thạc sỹ quan hệ hết sức chặt chẽ: Môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường. Trong hệ thống kinh tế xã hội, hàng hoá được di chuyển từ sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, phế thải. Các thành phần đó luôn ở trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó.
Khu vực giao nhau giữa hai hệ thống trên là môi trường nhân tạo. Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo. Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc gây ra thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực. Phát triển là xu hướng tất yếu của xã hội.
Tuy nhiên hiện nay ô nhiễm môi trường là không tránh khỏi trong quá trình sản xuất. Vấn đề là phải xác định được mức độ ô nhiễm có thể chấp nhận được.