phần mở đầu và kết luận - kiến nghị, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng baogồm: Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết về cân bằng nƣớc hệ thống và mô hình MIKE BASIN Chƣơng 3: Kết quả ứng dụng mô hình MIKE BASIN để tính cân bằng nƣớc cho lƣu vực sông Cả. 2 Luan van CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu cân bằng nƣớc 1.1 Tổng quan nghiên cứu cân bằng nước trên thế giới Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 2009 thì tác động của Biến đổi khí hậu đến sự cân bằng nƣớc chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Hầu hết các nghiên cứu về Biến đổi khí hậu tập trung vào các vấn đề về ngập lụt do nƣớc biển dâng mà chƣa xét đến các vấn đề tính toán cân bằng nƣớc.
Chính vì vậy, trƣớc tình hình biến đổi khí hậu đang diễn ra với tốc độ rất nhanh và phức tạp trên thế giới, đã đặt ra bài toán tính toán cân bằng nƣớc và dự đoán tác động của Biến đổi khí hậu tới sự cân bằng nƣớc. Cân bằng nƣớc là cơ sở quản lý và hoạch định chính sách trong một số vấn đề quan trọng liên quan đến quản lý tài nguyên nƣớc nhƣ thiết kế hệ thống cấp nƣớc, dự báo lũ, cấp nƣớc và sử dụng, quản lý nƣớc mƣa và nƣớc thải ở khu vực đô thị. Trong tất cả các lĩnh vực này, các nhà quản lý lƣu vực và các nhà hoạch định chính sách cần trích xuất thông tin về khối lƣợng tài nguyên, nhu cầu và thay đổi lƣu trữ trong lƣu vực. Biến đổi khí hậu có thể gây ra những tác động đáng kể đến tài nguyên nƣớc thông qua những thay đổi trong chu trình thủy văn.
Sự thay đổi các thành phần nhiệt độ và lƣợng mƣa của chu trình có thể có hậu quả trực tiếp về số lƣợng các thành phần bốc hơi và thoát hơi. Ở một số quốc gia nhƣ Hoa Kỳ, biến đổi khí hậu đã đƣợc xác định là chìa khóa quan trọng cho tính bền vững của nƣớc. Các phƣơng pháp, đề tài, dự án nghiên cứu và tính toán cân bằng nƣớc đã đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu ở các nƣớc nhƣ: Anh, Mỹ, Hà Lan, Canada, Đức, Nhật, Ấn Độ, Trung Quốc,…ứng dụng vào thực tế nhƣ: Cân bằng nƣớc dài hạn (1972- 2004) của lƣu vực với thảm phủ chủ yếu là rừng và đồng cỏ vùng cao tại Plynlimon, xứ Wales của Vincent Marc, Mark Robinson.[23] Ở Báo cáo Unessco - Paris năm 1974 của A. Chapman đƣa ra các “ Phƣơng pháp tính toán cân bằng nƣớc”.[23] 3 Luan van Boughton, W.
và PI Hill, 1997 đã đề xuất Quy trình ƣớc lƣợng lũ thiết kế sử dụng tạo dữ liệu và mô hình cân bằng nƣớc hàng ngày. Trung tâm nghiên cứu hợp tác về thủy văn lƣu vực, Úc;Boughton, W., 2004 đã xây dƣng Mô hình cân bằng nƣớc lƣu vực tại Úc thời kỳ 1960-2004. Li, 2002 đã mô phỏng cân bằng nƣớc trên quy mô trƣờng trên Cao nguyên Hoàng Thổ bằng mô hình WAVES. Gerard-Marchant, MT Walter, Y.
Liu và TS Steenhuis, 2003 đã giới thiệu một phƣơng pháp cân bằng đất-nƣớc để xác định lƣợng nƣớc ngầm nạp từ đất canh tác đƣợc tƣới tiêu ở Đồng bằng Bắc Trung Quốc. Dòng chảy mùa đông là một nguồn không chắc chắn trong tính toán cân bằng nƣớc. Bài nghiên cứu cơ bản cân bằng nƣớc đƣợc tiến hành một hội thảo đƣợc tổ chức tại Victoria, (WHV`2004), nhà xuất bản IAHS của Canada. Powell, 2006 đã phát triển một công cụ cân bằng nƣớc dựa trên nguồn nƣớc phục vụcho việc đánh giá các phƣơng án cấp nƣớc.[23] McCabe, GJ và SL Markstrom, 2007 đã xây dựng một mô hình cân bằng nƣớc hàng tháng đƣợc điều khiển bởi một giao diện đồ họa.
Gahandhari và SMR AlaviMoghaddam, 2011 trong cu ốn:” Nguyên tắc cân bằng nƣớc” đã đánh giá các nghiên cứu về năm lƣu vực sông ở Iran.2 Tổng quan nghiên cứu cân bằng nước ở Viêt Nam Các nghiên cứu về cân bằng nƣớc và phát triển bền vững nguồn nƣớc hệ thống trong nƣớc thực sự phát triển từ những năm 1950 trở lại đây với việc áp dụng các thành tựu của khoa học thế giới và nghiên cứu cải tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam. Trong khoảng thời gian ngắn, chúng ta đã có những bƣớc tiến dài trong nghiên cứu và sử dụng bền vững nguồn nƣớc. 4 Luan van Dựa vào các kết quả nghiên cứu có thể phân quá trình phát triển thành 2 thời kỳ: (a) thời kỳ nghiên cứu cân bằng nƣớc tự nhiên và (b) cân bằng nƣớc kinh tế. Cân bằng nước tựnhiên Các nghiên cứu cân bằng nƣớc tự nhiên đƣợc tiến hành từ những năm 1950 đến đầu những năm 1975.
Trong thời kỳ này, kế thừa các tiến bộ trong nghiên cứu qui luật khí tƣợng khí hậu của thế giới và hệ thống thiết bị quan trắc, ở nƣớc ta mạng lƣới quan trắc các đặc trƣng khí tƣợng, thủy văn, hải dƣơng, các hiện tƣợng thời tiết nguy hiểm nhƣ bão, dông, lũ ống, lũ quét, các hệ thống Cảnh báo đƣợc thành lập nhằm nghiên cứu cân bằng nƣớc với quy mô toàn lãnh thổ, miền, các khu vực. Chẳng hạn công trình nghiên cứu của GS. Ngô Đình Tuấn về chế độ dòng chảy của các sông suối Việt Nam. Tác giả đã đƣa ra các khái niệm làm cơ sở cho việc lựa chọn các phƣơng pháp nghiên cứu thích hợp.
Sự hình thành dòng chảy trƣớc hết đó là mối quan hệ giữa mƣa và lớp dòng chảy tƣơng ứng tại cửa ra của lƣu vực, mối quanhệgiữakhíhậuvàdòngchảyvới2mùakhíhậutrongnămdẫntớiviệchình thành dòng chảy. Qua nghiên cứu và tổng kết các tác giả xếp thứ tự các nhân tố nhƣ sau: Hồ ao, đầm lầy, thổ nhƣỡng, thảm rừng. Một trong các đóng góp có giá trị là đƣa ra chỉ tiêu phân vùng thủy văn làm cơ sở cho việc xác lập cán cân nƣớc theo vùng, địa phƣơng và ô thủy văn.[15] Nghiên cứu căn nguyên quá trình hình thành dòng chảy trên các sông suối nƣớc ta, PGS Nguyễn Lại đã xuất phát từ các khái niệm về các quá trình thủy văn chịu sự chi phối của các quá trình synop vĩ mô trên toàn miền Đông Á đồng thời với sự chi phối của điều kiện mặt đệm với mức độ khác nhau. Trên cơ sở đó xây dựng lý thuyết về kỳ dòng chảy sông ngòi gió mùa nhiệt đới Việt Nam.
Tác giả đã đƣa ra chỉ tiêu phân định kỳ dòng chảy “Đƣờng tần suất dòng chảy của các kỳ kế cận nhau không đƣợc cắt nhau khi vẽ chúng trên cùng hệ tọađộ”.[15] Hai công trình trên thực sự là các công trình nghiên cứu cơ bản làm cơ sở cho việc nghiên cứu cân bằng nƣớc ở ViệtNam. Trong giai đoạn này công cụ chủ yếu nghiên cứu cân bằng nƣớc tự nhiên là phƣơng pháp tổng hợp địa lý kết hợp với một khối lƣợng khổng lồ các số liệu quan 5 Luan van trắc về mƣa, dòng chảy, bốc hơi. Một loạt các bản đồ hoàn lƣu khí quyển, vùng khí hậu, bản đồ mƣa, dòng chảy ra đời là các luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chiến lƣợc đƣa ra các quyết định chính xác trên phạm vi toàn quốc. Tuy vậy do việc nghiên cứu còn gắn với địa giới hành chính cũng gây không ít khó khăn trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên nƣớc.
Giai đoạn nghiên cứu cân bằng nước có gắn với bài toán kinh tếnước Khi nền kinh tế xã hội phát triển thì nhu cầu về nƣớc ngày càng nhiều và yêu cầu chất lƣợng ngày càng cao. Do vậy việc nghiên cứu nguồn nƣớc đƣợc tiến hành tỉ mỉ hơn. Đó là chƣơng trình nghiên cứu tổng thể về cân bằng nƣớc hệ thống sông suối Việt Nam nhƣ KC12, quy hoạch tổng thể đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long, Tây Nguyên, Đồng Nai, vùng núi phíaBắc. Ngoài việc đánh giá tổng lƣợng, nhiều mô hình toán đã đƣợc quan tâm nghiên cứu, cải tiến và ứng dụng để dự tính sự thay đổi của nguồn nƣớc ngắn hạn và dài kỳ.
Một loạt các vấn đề nhƣ thủy văn – thủy lực hệ thống sông Hồng – Thái Bình, hệ thống sông Mê Kông, quy hoạch thủy lợi, hoàn chỉnh các hệ thống thủy nông đã đƣợc tiếnhành. Về nghiên cứu sử dụng nguồn nƣớc các hệ thống tƣới, từ những năm 1960 đã thành lập một mạng lƣới các trạm, trại thí nghiệm ở các tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Hải Hƣng, Thanh Hóa, Nghệ An, và sau năm 1975 là các trạm ở miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long nhằm nghiên cứu về nhu cầu nƣớc của cây trồng. Các nghiên cứu không dừng lại ở cây lúa nƣớc mà còn nghiên cứu với nhiều loại cây trồng cạn và hoa màu. Các viện nghiên cứu khoa học nông nghiệp, Viện nghiên cứu khoa học và kinh tế thủy lợi và các trƣờng Đại học Nông nghiệp, Đại học Thủy lợi là những cơ quan hàng đầu nghiên cứu về lĩnh vực này.
Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng nƣớc cần cho 3 3 lúa từ 5500 m /ha đến 6700 m /ha, thay đổi tùy theo địa phƣơng và theo mùa, trong 3 khi nƣớc cần cho cây trồng cạn phổ biến dƣới 4000 m /ha/vụ. Khi dịch chuyển mùa vụ với thời gian nhỏ hơn 10 ngày thì yêu cầu dùng nƣớc của cây trồng cũng thay đổi từ 10 – 25%. Yêu cầu dùng nƣớc của cây trồng có xu thế tăng lên khi áp dụng những loại cây trồng mới có năng suất cao. Một số kết 6 Luan van quả nghiên cứu nhu cầu nƣớc của cây trồng cạn nhƣ sau: Cà chua (250 – 340), bắp cải (230 - 240), đậu tƣơng (230 – 290), thuốc lá (280 – 300), khoai tây (260 – 270).1 Kết quả thực nghiệm về nhu cầu nƣớc của lúa (mm) Địa điểm Thời gian Lúa chiêm Lúa màu Đồng bằng sông Hồng 73 - 80 280 - 384 353 – 437 Vĩnh Phúc 59 - 80 304 - 389 494 - 571 Hải Dƣơng 60 - 65 300 - 385 475 - 589 Thƣờng Tín 75 - 80 325 - 455 433 - 645 Thanh Hóa 58 - 62 311 - 382 437 - 588 Nghệ An 60 - 62 395 - 537 465 - 604 Trên cơ sở các số liệu thực nghiệm một số tác giả nhƣ Hà Học Ngô, Đào Thế Tuấn, Nguyễn Duy Tính, tập thể các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu khoa học và kinh tế thủy lợi quốc gia đã kiểm định lại một số công thức phổ biến, xác định hệ số cây trồng Kc cho các vùng khí hậu khác nhau, đồng thời các tác giả cũng đề nghị một số công thức mới.
Đối với cây trồng cạn, các kết quả nghiên cứu của FAO áp dụng vào điều kiện Việt Nam từ những năm 1970 – 1980 vẫn tỏ ra có hiệu quả cao.