MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam nằm ở vị trí giao nhau của 2 vành đai sinh khoáng: vành đai Tây Thái Bình Dương và vành đai Địa Trung Hải, vì vậy tài nguyên khoáng sản của Việt Nam đa dạng về chủng loại và tương đối phong phú. Theo kết quả điều tra đánh giá, thăm dò khoáng sản ở nước ta đến nay đã phát hiện được trên 5.000 mỏ và điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản khác nhau [5]. Thái Nguyên là một tỉnh có nhiều mỏ quặng sắt, trên địa bàn tỉnh có khoảng 27 mỏ sắt với trữ lượng từ vài trăm đến vài chục triệu tấn.
Trong đó, các mỏ có trữ lượng lớn phải đa phần có chủ đầu tư là Công ty CP Gang thép Thái Nguyên) như mỏ sắt Trại Cau có trữ lượng 13.587 tấn, mỏ sắt Tiến Bộ có trữ lượng 19. Các mỏ nhỏ có các chủ đầu tư gồm Công ty CP gang thép Gia Sàng (chủ đầu tư mỏ Đại Khai), Công ty cổ phần luyện kim đen Thái Nguyên (mỏ Chỏm Vung Tây). Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện hơn 176 các điểm mỏ, điểm khoáng sản của 24 loại khoáng sản rắn thuộc 4 nhóm (Nhiên liệu khoáng; khoáng sản kim loại; khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng) [12]. Có một số mỏ lớn đã đi vào hoạt động khai thác như ở huyện Đồng Hỷ có: mỏ sắt Trại Cau, mỏ sắt Hóa Trung, mỏ sắt Tương Lai, mỏ sắt Hoan, mỏ sắt Linh Nham, mỏ sắt San Chi Cóc, mỏ sắt Chỏm Vung Tây; huyện Phú Lương có: mỏ sắt Phố Giá; huyện Võ Nhai có mỏ sắt Bồ Cu, mỏ sắt đang hoạt động khai thac với quy mô lớn nhất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay là mỏ sắt Trại Cau.
Nhìn chung hoạt động khai thác quặng sắt trên địa bàn đã được bắt đầu từ khá lâu. 2 Mỏ sắt Trại Cau được khởi công xây dựng từ cuối năm 1959 với sự giúp đỡ về kỹ thuật và thiết bị của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa và khánh thành đi vào hoạt động sản xuất từ ngày 16 tháng 12 năm 1963 với công suất thiết kế ban đầu là 150 ngàn tấn quặng sạch/năm. Với công nghệ khai thác lộ thiên mỏ khai thác lộ thiên phục vụ cho công nghệ luyện kim, một ngành công nghệ mũi nhọn đang được chú trọng đầu tư. Mỏ sắt Trại Cau là nơi cung cấp nguyên liệu chính cho khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên, khu vực này có 9 điểm quặng bao gồm: Mỏ quạng Trung Bắc, Quang Trung Nam, Núi Đ, Thác Lạc 1, Thác Lạc 2, Thác Lạc 3, Núi Quặng, chỏm vung, Hàm Chim.
Qua mấy trục năm khai thác, trữ lượng ở một số khai trường đã hết và những khai trường này đang trong giai đoạn hoàn thổ. Hiện nay mỏ đang triển khai sản xuất trên 2 khai trường chính là: mỏ mỏ Núi Đ, mỏ Quang Trung Bắc. Việc phát triển khai thác khoáng sản góp phần không nhỏ cho sự phát triển nền kinh tế đất nước, nhưng tại nhiều địa phương, vấn đề bảo vệ, cải tạo và phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản chưa được quan tâm và đầu tư, gây nên những tiêu cực đến môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên, Nhiều khu vực khai thác đã làm biến đổi nặng nề bề mặt địa hình, thảm thực vật bị suy thoái, tốc độ rửa trôi, xói mòn tăng nhanh; môi trường nước đất bị xáo trộn và ô nhiễm kim loại nặng, gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe và an toàn của người lao động [5]. Trước thực tế trên, tôi tiến hành đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường mỏ sắt Hòa Bình xã Cây Thị, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” nhằm mục đích đánh giá hiện trạng môi trường, đề xuất các giải pháp quản lý môi trường giúp cải thiện môi trường khu vực mỏ và nâng cao hiệu quả quản lý môi trường mỏ sắt Hòa Bình xã Cây Thị, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Mục tiêu của đề tài 2. Mục tiêu tổng quát Đánh giá hiện trạng môi trường khu vực mỏ sắt Hòa Bình xã Cây Thị, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Từ đó đưa ra các giải pháp và công tác quản lý môi trường do hoạt động khi thác. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá hiện trạng môi trường (môi trường không khí, nước, đất) mỏ sắt khu vực Hòa Bình xã Cây Thị, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên - Đề xuất giải pháp và công tác quản lý nhằm bảo vệ môi trường, an toàn cho khu vực dân cư và các hoạt động khác diễn ra quanh khu vực mỏ đáp ứng được các tiêu chuẩn, quy chuẩn.
Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa thực tiễn + Tạo cơ sở đề xuất được mô hình quản lý với các biện pháp phù hợp nhất với điều kiện của đại phương, đem lại hiệu quả cao. + Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho nhân dân địa phương. - Ý nghĩa khoa học: + Vận dụng nâng cao kiến thức vào đời sống và thực tiễn. + Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn để phục vụ cho công tác BVMT sau này.
+ Rèn luyện kĩ năng thực tế, đúc rút kinh nghiệm. + Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu quý, có độ tin cậy cao cho học tập Cao học và Đại học chuyên ngành Khoa học môi trường. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 định nghĩa như sau: * Môi trường: Là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo, có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.
* Quy chuẩn kỹ thuật môi trường: Là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường. * Tiêu chuẩn môi trường: Là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường. * Ô nhiễm môi trường: Là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. - Nguyên nhân gây ô nhiễm chủ yếu do các chất khí thải ra từ hoạt động công nghiệp và sinh học, do các loại hóa chất bảo vệ thực vật và chất độc hóa học, do các tác nhân phóng xạ, do các chất thải rắn, do tiếng ồn, bụi, khói, do sinh vật gây bệnh và nhiều nguyên nhân khác.Ngoài ra, ô nhiễm còn do một số hoạt động của tự nhiên: núi lửa phun nham thạch gây nhiễu bụi bặm, thiên tai.tạo điều kiện cho nhiều loại vi sinh vật gây bệnh phát triển.
* Chất gây ô nhiễm: Là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm môi trường bị ô nhiễm. 5 * Quản lý môi trường: Là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý môi trường bao gồm: Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người. Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất.
Các khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội. Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư. * Công cụ quản lý môi trường: Là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất.
Mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau. Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo chức năng gồm: Công cụ điều chỉnh vĩ mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ. Công cụ điều chỉnh vĩ mô là luật pháp và chính sách. Công cụ hành động là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh tế - xã hội, như các quy định hành chính, quy định xử phạt,.
và công cụ kinh tế. Công cụ hành động là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường trong công tác bảo vệ môi trường. Thuộc về loại này có các công cụ kỹ thuật như: GIS, mô hình hoá, đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môi trường. Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo bản chất thành các loại cơ bản sau: 6 Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương.
Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường. - Sức khỏe môi trường: là trạng thái của những yếu tố vật chất tạo thành môi trường có tác động đến sức khỏe và bệnh tật của con người. - Suy thoái môi trường: là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật.
- Sự cố môi trường: là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng. - Kiểm soát ô nhiễm: là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm.