CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE LƯU VUC SÔNG VU GIA - THU BON VA TINH HÌNH KHAI THÁC, SU DUNG, QUAN LY TÀI NGUYEN NUOC 1.1 Điều kiện tự nhiên của hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn 1.1 VỊ trí địa lý Hệ thống sông Vu Gia- Thu Bồn là hệ thống sông lớn nhất các tỉnh Duyên Hải Trung Bộ. Toàn bộ lưu vực nằm ở sườn Đông của dãy Trường Sơn có diện tích lưu vực 10.500 km2 chiếm gần 90% diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. ICEIM - The brtpmational Centre or Eaevoezreredl Nacdoemesl (ata Sources: CORE, trao Hình 1-1: Vị trí địa lý lưu vực sông Vu Gia — Thu Bon Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng Nam Trung Bộ Việt Nam có tọa độ địa lý khoảng 1082616” đến 1084404” độ kinh đông và từ 15”23'38” đến 153843” độ vĩ bắc. Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng; phía Đông giáp biển Đông với trên 125 km bờ biển; phía Nam giáp tinh Quảng Ngãi; phía Tây giáp tinh Kon Tum và nước 4 Luận văn thạc sĩ Công hoà dân chủ nhân dân Lào.
Quảng Nam có 14 huyện và 2 thị xã, trong đó có 08 huyền miễn núi là Đông Giang, Tây Giang. Nam Trì My, Bắc Trà My, Phước Sơn, Hiệp Đức và Tiên Phước. Quảng Nam ở vào vi tí trung độ của dit nước, nằm trên trụ giao thông Bắc - Nam về đường sắt, đường bộ và đường biển và đường hàng không, cỏ đường Hỗ Chí Minh, Quốc lộ 14D, I4B, 14E nỗi đồng bằng ven biển qua các huyện trung du miễn nói của tỉnh đến biên giới Việt - Lào và các tỉnh Tây Nguyễn; trong tương li gin sẽ nối với hệ thống đường xuyên A tạo vị tí thuận lợi cho tỉnh về giao lưu kinh tế với bên ngoài “Thành phố Đà Nẵng trải di từ 15°13" đến 16°40" Bắc và ừ 107°17 đến 108°20" Đông. Phía bắc giáp nh Thừa Thiên.
Hu, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Dông. Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 964lem về phía Nam, cách kinh đồ thỏi cận đại của Việt Nam là thành phổ Huế 108 km về hướng Tây Bắc. Toàn thành phố có diện tích 1.255,53 km* (trong đó phần đi n là 950,53 km2; phần huyện đảo Hoàng Sa là 305 km), Đà ng hiện tại có th cả à 6 quận, và 2 huyện là Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa Kon Tum là một tỉnh nằm ở phía bắc vùng Tây Nguyễn. có toa độ trong giới hạn 13°S5'-15°27" vi độ Bắc và 107°20' -108°32" kinh độ Đông, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía tây có biên giới dài 142 km giáp Atiapeu, Cộng hoà Dan chủ Nhân dân Lào và 95 km với Retanakri, Vương quốc Campuchia, Kon Tam có điện tích tự nhiên 961.450 ha nhưng do phần lớn điện tích tự nhiên nằm ở phía đông day Trường Sơn nên địa hình Kon Tum nghiêng dẫn từ đông sang tây và thấp dẫn từ bắc xuống nam.
Vùng này là noi bắt nguồn của nhiễu con sông lớn như sông Cái chảy sang Quảng Nam, sông Sẽ San chảy sang Cămpuchia và sông Ba chảy sang Phú Yên.2 Địa hình, địa mạo, 5 Luận vấn thạc sĩ Địa hình lưu vực sông Vu Gia — Thu Bồn nhìn chung khá phức tạp, hướng dia hình nghiêng dan từ Tây sang Đông hình thành 3 kiêu cảnh quan sinh thái rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa và dải đồng bằng ven biển. Vùng đổi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên với nhiều ngọn cao trên 2.000m như núi Lum Heo cao 2.032m, núi Gole - Lang cao 1. Núi Ngọc Linh cao 2.598m nằm giữa ranh giới Quảng Nam, Kon Tum là đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn. Ngoài ra, vùng ven biển phía đông sông Trường Giang là dài cồn cát chạy dài từ Điện Ngọc, Điện Bàn đến Tam Quan, Núi Thành.
Phía Bắc là dãy núi Bạch Mã cao trên 1000m. Phía Nam cũng có những dãy núi cao trên 1000m chạy ra gần sát biên, làm thành ranh giới phân tách tỉnh Quảng Nam với Quảng Ngãi. Các dãy núi cao nối liền nhau tạo thành vòng cung che chắn 3 phía Bắc, Tây và Nam của Quảng Nam - Đà Nẵng. Chuyên tiếp từ vùng núi cao xuống đồng bang là vùng trung du với những đôi núi thấp có độ cao (100-800) m.
Vùng đồng bang hẹp có địa hình thấp dưới 30 m, phân bố ở một số huyện thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam (Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Thăng Bình, Hội An) và thành phố Đà năng (huyện Hòa Vang, các quận Ngũ Hành Sơn và Hải Châu). Tiếp giáp với biển là những dải cát có những cồn cát cao hơn 10 m Bé mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá phát triển gồm sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ và sông Trường Giang. Đó là nguyên nhân tạo khả năng tập trung nước rât nhanh vào mùa mưa lũ trên lưu vực sông Vu Gia — Thu Bồn. Tình trạng xói mòn bờ sông rất nghiêm trọng trong mùa lũ và khối lượng bùn tích cũng rất nhiều.
Sông Thu Bồn thường xuyên đổi dòng trong mùa lũ và thường xuyên thay đổi vị trí cửa sông vì khối lượng bồi tích quá lớn. Nhà cửa và đất nông nghiệp đọc theo hai bờ sông bị thiệt hại mất mát vì lý do này. 6 Luận van thạc sĩ 104°20'0"E 104°40'0"E 1050 0"E 106°20'0"E 105°40'0"E __ 1 poe 103 poe 105s poe 5 poe 105% poe LEGEND Province boundary /V River e@ Rainfall station A River gauging Elevation (m) = High : 2580 Low: 0 16°20"N 16°20"N — ————— ————— E————— E—————— — 0 ,10 20 30 104°2010"E 104°4'0"E 1050 0'E 105°200"E 105°40'0"E — Hình 1-2: Bản đô địa hình lưu vực sông Vụ Gia - Thu Bon 1. Đặc điểm khí hậu lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 1.1 Nhiệt độ Do nằm ở phía nam dãy Bạch Mã và phía đông dãy Trường Sơn Nam, nên khí hậu trong lưu vực hệ thống sông Thu Bồn cũng có đặc điểm chung của khí hậu vùng Nam Trung Bộ với mùa đông không lạnh, nắng nhiều, chịu ảnh hưởng bởi gió tây khô nóng, mua mưa vào cuôi mùa hè, dau mùa đông.
- Số giờ nắng trung bình năm biến đổi trong phạm vi từ 1.800 giờ ở vùng núi cao đến hơn 2.000 giờ ở vùng đồng bằng ven biển. - Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 24 - 26°C, giảm từ đồng bằng ven biển lên miền núi theo sự tăng cao của địa hình. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối có thể trên 40°C vào những ngày có gió tây khô nóng. Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thé đưới 15°C ở vùng đồng bằng và dưới 10°C ở vùng núi.
7 Luận văn thạc sĩ 1132 Chế độ gió “Tắc độ gió binhquân bằng năm vùng núi đạt 07 + 1,3 ms, rong khi đỗ vùng đồng bằng ven biển đạt 1.3-+ 1,6 ms, Tốc độ gió lớn nhất đã quan trắc được ở Trà My mùa hạ đạt 34 m/s trong mùa mưa đạt 25 m/s, Ving đồng bằng ven biển gió thường, mạnh hơn và đạt 40 mis như ở Đà Nẵng khi có bão. Lượng mây tổng quan trung bình năm biến đổi trong phạm vi (5:77)/10 bu tri, 6 xu thể tang dẫn từ đồng bằng lên miễn nồi 1133 Chế độ mưa Lượng mưa trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn khá phong phú trung bình. khoảng 2700 mm nên có dong chảy rất dồi dào. Lưu lượng bình quân của toàn lưu vực 634 m3/s với tổng lượng Wo = 20.
Cùng với đặc điểm địa hình nghiêng từ Tây sang Đông, 3 hướng đu là núi kết hợp với lượng mưa lớn trên lưu vực là nguyên nhân tạo ra các trân mưa lũ và khả nãng tập trung nước rất nhanh vào mùa mưa lũ trên lưu wwe sông Lượng mưa trung bình năm phân bổ không đều trong lưu vực với giá trị tổng lượng mưa trung bình năm (X°) biến đổi trong phạm vi từ khoảng 2.200 - 2600mm ở vũng trung lưu và hơn 4.000mm ở núi phía nam, đông nam huyện Bắc Bắc Trả My. Ngoài tung tâm mưa lớn ở vũng núi phía nam và đông nam huyện Bắc Trà My, còn có trung tâm mưa lớn ở vùng núi phía bắc, tây bắc (huyện Tây Giang, Đông Gian va Nam Giang) có X° = 2.800 - 3000mm Tượng mưa trung bình năm trung bình cho toàn lưu vực khoảng 2700 mm, trong đó lưu vực sông Thu Bồn tính đến Giao Thủy bằng 3.590mm, lưu vực sông Vu Gia tính đến Ái Nghĩa bằng 2760mm. Do ảnh hướng của gió mùa Tây Nam, từ thắng 5 5 Luận vin thạc sĩ (riêng vùng mưa lớn Bắc Trà My từ tháng 4), lượng mưa trung bình tháng đều lớn hon 100mm, kéo dài đến tháng 12. Tượng mưa trung bình thang (mm) Xt năm| Thượm Lị IV] V [VI |VH|VIH|IX[ X _XI[XH} (mm) hồi hán 5232152|1962]15I.7 49004245 Bang 1-1: Lương mưa trung bình thắng, năm tại một s tram quan trấc “Hình 1-3: Bản § lượng mưa trung bình nhiều năm lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn 9 Luận vấn thạc sĩ Tổng lượng mưa từ thang 9 đến tháng 12 chiếm tới 60 - 75% tông lượng mưa cả năm, có xu thế tăng dần từ phía bắc vào nam và từ tây sang đông.
Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất vào tháng 10 (một số nơi vào tháng 11 như Bắc Trà Mỹy,.) với lượng mưa có thé tới ~ 1.000mm, chiếm 23 - 30% lượng mưa cả năm. 3 tháng có lượng mưa nhỏ nhất thường là các tháng 1,2,3 ở phần phía tây, tây nam, tây bắc lưu vực hay các tháng 2 - 4 ở các nơi khác. Sự phân phối rất không đồng đều trong năm thường gây nên hạn hán và ngập lụt. Trong mùa khô, số ngày không mưa kéo dài do đó thường xảy ra hạn hán trong vụ Đông Xuân và Hè Thu.
Trái lại, mùa mưa ở lưu vực sông Thu Bồn - Vu Gia và một số vùng khác ở ven biển Trung Bộ thường chỉ kéo dài trong 3- 4 tháng, lượng mưa lớn với cường độ cao, gây nên ngập lụt ở đồng bằng hạ lưu và lũ quét ở miền núi. Lũ cũng có nguyên nhân chính gây xói lở bờ sông và thay đổi dòng chảy. Trên lưu vực sông Vu Gia — Thu Bồn có nhiều đoạn sông bị xói lở bồi lắng đặc biệt là đoạn sông Quảng Huế nối giữa sông Vu Gia và Thu Bồn. Xói lở bôi lang sông Quảng Huế đã làm thay đổi phân bố dòng chảy trên sông ảnh hưởng tới dân sinh kinh tế và phát triển trong vùng đặc biệt vào mùa kiệt.
10 Luận van thạc sĩ 1.4 Độ ẩm Độ 4m không khí có quan hệ chặt chẽ với nhiệt độ không khí và lượng mưa.