CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THẢI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.1 Tổng quan về HTTN và XLNT tại Thành phố Hồ Chí Minh.1 Khái quát về HTTN tại Thành phố Hồ Chí Minh. HTTN của Thành phố là hệ thống chung dùng cho cả nước mưa và nước thải, chia làm 2 hệ chính: hệ thống thoát nước hở (kênh rạch) và hệ thống thoát nước kín (cống ngầm) và các công trình đầu mối. Năm 1862, Thành phố Sài Gòn được quy hoạch cho khoảng 500 ngàn dân với diện tích chỉ khoảng 25 km2, được bao bọc bởi rạch Thị Nghè, sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé, kênh Bao Ngạn. Ngay từ thời điểm này, vấn đề phức tạp trong giải quyết tiêu thoát nước cho một vùng trũng thấp, ngập triều cũng được nêu ra, các nhà quy hoạch đã nghĩ đến việc đào hồ để giải quyết tiêu thoát nước cho vùng đất trũng thấp này.
Trước năm 1975, dân số Sài Gòn cũng đã tăng cao, nhưng cũng chỉ vào khoảng 2,5 triệu người và tập trung ở khu vực nội thành cũ với diện tích khoảng 140 km2, xung quanh vùng phụ cận của nội thành này vẫn còn là vùng bưng biền với sông rạch, đầm hồ chằng chịt. Từ sau năm 1975 đến nay, tình hình dân số tăng quá nhanh, nếu tính đến số người dân nhập cư thì dân số hiện nay có thể hơn 8 triệu người. Người đông, nhu cầu nhà ở tăng cao, mật độ xây dựng trở nên dày đặc, vùng trũng thấp, sông rạch, ao hồ, mặt nước bị san lấp quá nhiều. Cùng với quá trình đô thị hoá, bê tông hoá, thành phố mất dần diện tích kênh rạch thoát nước, vùng 8 đệm và hồ điều tiết, hệ số mặt phủ thay đổi làm gia tăng hệ số chảy tràn khiến tình hình ngập ngày càng trở nên trầm trọng.1 Khái quát về HTTN tự nhiên (kênh rạch thoát nước) Thành phố Hồ Chí Minh có trên 1.200 km sông kênh rạch phục vụ cho việc tiêu thoát nước, trong số đó có gần 500 km được sử dụng cho giao thông thủy.
Riêng khu vực nội thành có khoảng hơn 100 km kênh rạch được dùng làm trục thoát nước chính, trên đó có bố trí các cửa xả, là đầu ra của hệ thống cống thoát nước.1 Các kênh tiêu chính trong và xung quanh khu vực nội đô Kênh tiêu Diện tích tiêu thoát nước Chiều dài kênh (km) (km2) ) Nhieu Loc - Thi Nghe 31,7 9,4 Tan Hoa - Lo Gom 20,2 7,8 Tau Hu - Ben Nghe 61,7 12,4 Doi – Te 13,5 Tham Luong - Ben Cat 107,6 15,0 Nguồn: Nghiên cứu về Hệ thống thoát nước và nước thải đô thị (JICA 1999), Báo cáo cuối cùng 1.2 Khái quát về hệ thống cống thoát nước trên địa bàn Thành phố. Hệ thống cống thoát nước kết hợp được phân chia thành các cấp sau: - Cấp 1: Các sông, kênh, rạch thoát nước tự nhiên, hồ điều hòa. - Cấp 2: Cống chính lấy nước mưa, nước thải từ cống cấp 3 và xả ra kênh rạch thoát nước tự nhiên (cấp 1). - Cấp 3: Cống lấy nước từ cống cấp 4 và xả vào cống cấp 2.
- Cấp 4: Cống dẫn nước từ các công trình và các nhà máy và xả vào cống cấp 3.1: Sơ đồ phân cấp cống Nguồn: Công ty Thoát nước đô thị Hiện nay, tổng chiều dài cống cấp 2, cấp 3, cấp 4 hiện nay là khoảng 1600 km trong toàn thành phố. Trong số đó, có 930 km cống tập trung trong khu vực nội đô với diện tích lưu vực tiêu thoát nước là 140 km2 xả ra hệ thống kênh rạch gồm 27 hệ kênh chính và 16 hệ kênh nhánh qua 412 cửa xả. Tổng số cửa xả, cống kiểm soát triều trên địa bàn thành phố là 816. Tỉ lệ phục vụ đối với các quận nội thành như các quận 1, 3, 5 là 100%; các quận 4, 6, 8, 10, 11, Tân Bình, Phú Nhuận, Bình Thạnh đạt từ 80% đến 90%; các quận còn lại từ 30% đến 70% nhưng đối với các huyện ngoại thành như Bình Chánh chỉ có 0,3%; huyện Cần Giờ có tỉ lệ rất thấp; số dân được hệ thống thoát nước phục vụ chiếm tỉ lệ là 80% và so với yêu cầu, hiện có rất nhiều tuyến đường, khu dân cư vẫn chưa có cống thoát nước.
10 Từ ngày 18/11/2002, UBND thành phố đã có quyết định số 132/2002/QĐ-UB phân cấp một số lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật đô thị từ Sở Giao thông Công chính (nay là Sở Giao thông vận tải) cho UBND các Quận - Huyện, trong đó có hệ thống thoát nước. Khối lượng cống thoát nước cấp 2, cấp 3 hiện nay do Trung tâm chống ngập quản lý là trên 1600 km và cấp 3, cấp 4 do Quận - Huyện quản lý là 500 km.3 Khái quát về HTTN thải trên địa bàn Thành phố Theo quy hoạch chung của Thành phố, trong tương lai sẽ có 12 nhà máy XLNT được xây dựng. Hiện nay, trên địa bàn Thành phố có bốn nhà máy XLNT đã được xây dựng với tổng công suất 235.500 m3/ngày đêm ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó, nhà máy Bình Hưng (lưu vực 1) là nhà máy đầu tiên được xây dựng theo định hướng quy hoạch tổng thể thoát nước thải của thành phố. Hiện Thành phố đang chuẩn bị đầu tư 02 nhà máy XLNT: Nhà máy XLNT Tham Lương Bến Cát (Lưu vực 8) và nhà máy XLNT Nhiêu Lộc Thị Nghè (Lưu vực 9) và đang kêu gọi đầu tư 09 nhà máy còn lại.2 Các nhà máy xử lý nước thải hiện có ở Thành phố Hồ Chí Minh Nhà máy xử lý Công suất Phương pháp Dự án nước thải (m3/ngày xử lý đêm) Bình Hưng Hòa 30.000 Hồ thổi khí Dự án Nâng cấp đô (không thuộc thị và vệ sinh Kênh quy hoạch 12 Tân Hóa – Lò Gốm nhà máy) Nhiêu Lộc – Thị 64.000 Xử lý ban đầu Dự án vệ sinh môi 11 Nghè trường lưu vực Nhiêu Lộc Thị Nghè.
Tân Quy Đông 500 Phản ứng tấm lọc sinh học (Fluidized-bed Bio-film Reactor) Bình Hưng (lưu 141.000 Bùn hoạt tính cải Dự án cải thiện môi vực 1) tiến trường nước lưu vực Tàu Hủ - Bến Nghé – Đôi Tẻ Thành phố Hồ Chí Minh Tổng 235.500 Nguồn: Báo cáo về dự án Phát triển năng lực quản lý thoát nước Thành phố Hồ Chí Minh, JICA/MLIT, 2010 Giả thiết lượng nước thải thải ra gần bằng lượng nước sạch tiêu thụ, thì lượng nước thải thải ra trên 19 quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh ước tính là khoảng 990. Công suất xử lý nước thải hiện tại (235.500 m3/ngày đêm) mới chỉ đáp ứng 24% lượng nước thải thải ra.2 Thực trạng của HTTN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.1 Thực trạng của quản lý HTTN tự nhiên (sông kênh rạch) Các kênh rạch trên địa bàn thành phố hiện nay đang có hàng chục ngàn căn hộ lấn chiếm khiến dòng chảy bị thu hẹp, cửa xả bị bít lối thoát, nhiều đoạn không thể duy tu nạo vét khiến khả năng tiêu thoát nước ngày càng suy giảm. Kết quả khảo sát tại khu vực nội thành cũ và một phần khu vực mới đô thị hoá cho thấy khoảng 50% tổng chiều dài kênh rạch thoát nước hiện hữu đang bị nhà dân lấn chiếm. Các tuyến rạch tiêu biểu về tình trạng lấn chiếm 12 bao gồm: rạch Bùi Hữu Nghĩa, rạch Phan Văn Hân, rạch Cầu Sơn, Cầu Bông (Quận Bình Thạnh), rạch Bàu Trâu, rạch Hàng Bàng, rạch Bà Cả, Bà Dơi, Bà Lựu (Quận 6), rạch Ông Búp, rạch Lê Công Phép, kênh Liên Ấp (Quận Bình Tân), rạch Dừa, rạch Bà Miêng (Quận Gò Vấp), rạch Bà Bướm, rạch Bàng, rạch Nguyễn Văn Quỳ (Quận 7)… Theo số liệu điều tra từ năm 2001, Thành phố có khoảng 30.000 căn hộ xây cất trên kênh rạch.
Với tình trạng lấn chiếm và những bất cập trong quản lý đô thị thời gian qua, số nhà xây cất trên kênh rạch có thể phát sinh cao hơn con số nêu trên. Đến nay, thành phố chỉ mới giải tỏa được khoảng 10.000 căn hộ trên 2 tuyến kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè và Tàu Hủ - Bến Nghé, như vậy còn khoảng 20.000 căn hộ cần phải di dời giải toả. Mặc dù UBND Thành Phố đã ban hành chỉ thị 27/2002/CT-UB ngày 19/12/2002 về tăng cường quản lý nhà nước đối với sông kênh rạch trên địa bàn Thành Phố; trong đó có giao cho chủ tịch UBND các Quận Huyện phát hiện, xử lý kịp thời để chặn đứng tình trạng lấn chiếm sông kênh rạch nhưng kênh rạch Thành phố vẫn tiếp tục bị san lấp và lấn chiếm, nhất là tại các vùng mới đô thị hoá bên ngoài lưu vực trung tâm. Theo quy hoạch tổng mặt bằng Thành phố năm 1998, trong giai đoạn từ năm 1998 đến 2005 sẽ có 3.576 ha kênh rạch được san lấp.
Trên thực tế, đã có 2.157 ha diện tích kênh rạch được san lấp, chuyển đổi thành đất xây dựng để xây dựng các khu dân cư mới. Tình trạng kênh rạch mất dần diện tích do bị san lấp và khả năng thoát nước suy giảm do không thể nạo vét vì vướng nhà dân lấn chiếm là một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng ngập và làm gia tăng mức độ ngập trên toàn địa bàn thành phố.2 Thực trạng các hồ điều tiết nước Trước đây Thành phố có nhiều ao hồ điều tiết nước mưa và nước triều. Khu vực dọc theo Quốc lộ 1A (xa lộ Đại Hàn cũ) có nhiều ao lớn được hình 13 thành do lấy đất để đắp nền khi xây dựng tuyến đường này. Khu vực Quận 6, Quận Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân, Huyện Bình Chánh cũng có nhiều ao lớn.
Hầu hết các ao hồ này đã bị san lấp, gây ra tình trạng ngập nghiêm trọng cho khu vực, cụ thể như: - Việc san lấp rạch Bà Lài (Quận 6) và ao sen đài ra đa Phú Lâm (Quận Bình Tân) đã gây ra tình trạng ngập nghiêm trọng cho khu vòng xoay Phú Lâm, bến xe Miền Tây, các khu dân cư lân cận trong khu vực… - Việc san lấp ao rau muống để xây dựng khu dân cư Bàu Cát (Quận Tân Bình) làm cho nước ở vùng cao Quận Tân Bình tràn nhanh về vùng thấp, gây ngập úng cho khu vực Đầm Sen, bùng binh Cây Gõ, đường Bà Hom, đường Tân Hòa Đông, Phường 13-14, Quận 6. Trong quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước đến 2020 có định hướng mạng lưới hồ điều tiết trong tương lai nhằm tăng khả năng giữ nước, tuy nhiên với hiện trạng sử dụng đất như hiện nay thì các quận - huyện gặp khó khăn trong việc giữ đất để xây dựng hồ điều tiết cho từng khu vực.3 Thực trạng hệ thống cống thoát nước kín trên địa bàn thành phố Hệ thống cống thoát nước của Thành phố hiện nay vừa thiếu về số lượng vừa nhỏ về tiết diện.