phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị nguồn nhân lực. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Bất cứ tổ chức nào cũng đƣợc tạo thành bởi các thành viên là con ngƣời hay nguồn nhân lực, nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời. Con ngƣời là tài sản quan trọng nhất trong một tổ chức và thành công của tổ chức phụ thuộc vào tính hiệu quả nguồn lực này cũng nhƣ cách thức quản lý con ngƣời.
Nguồn nhân lực đƣợc bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo về chuyên môn mà con ngƣời tích lũy đƣợc, tạo nên giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho tổ chức của ngƣời lao động. Do đó có thể nói nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. + Thể lực: Chỉ sức khỏe của thân thể nó phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của từng ngƣời, mức thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, thời gian công tác,. + Trí lực: Chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, khả năng, năng lực, cũng nhƣ quan điểm, lòng tin, nhân cách của con ngƣời,.
Nguồn nhân lực của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của tổ chức do chính bản chất của con ngƣời [2]. Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời của những tổ chức có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới [4]. Các tổ chức đều có các nguồn lực, bao gồm tiền bạc, vật chất, thiết bị và con ngƣời cần thiết để tạo ra hàng hóa và dịch vụ.
Nguồn nhân lực của một tổ chức 7 đƣợc hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu chung nhất định. Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Quản trị nguồn nhân lực bao gồm tất cả những quyết định và hoạt động quản trị có ảnh hƣởng đến mối quan hệ giữa tổ chức và đội ngũ nhân viên. Trong tất cả các hoạt động quản trị, quản trị con ngƣời là nhiệm vụ trung tâm và quan trọng nhất vì mức độ thành công của nó mang tính quyết định đối với các vấn đề khác của tổ chức. Nhiệm vụ chủ yếu là bảo đảm có đúng ngƣời với kỹ năng và trình độ phù hợp, vào đúng công việc và đúng thời điểm thích hợp để thực hiện các mục tiêu của tổ chức.
Quản trị nguồn nhân lực, theo Guest (1987) và Boxall & Dawling (1990) là “sự tích hợp các chính sách và hành động quản trị nguồn nhân lực với chiến lược kinh doanh. Sự tích hợp này được thể hiện ở ba khía cạnh: (1) gắn kết các chính sách nhân sự và chiến lược với nhau; (2) xây dựng các chính sách bổ sung cho nhau đồng thời khuyến khích sự tận tâm, linh hoạt và chất lượng công việc của người lao động, và (3) quốc tế hóa vai trò của các phụ trách khu vực”. Quản trị nguồn nhân lực là một lĩnh vực phức tạp và khó khăn, là sự trộn lẫn giữa khoa học và nghệ thuật. Nhà quản trị phải có kiến thức tốt về tâm lý, xã hội, đạo đức,… có khả năng nhận diện và phân tích các vấn đề nhƣ nghiên cứu hành vi, tổ chức, luật pháp và các nguyên tắc hoạt động.
Theo nhà tâm lý học ngƣời Mỹ Abraham Maslow (1908-1970) cho rằng ngƣời lao động có 5 nhu cầu cơ bản đƣợc phân cấp theo thang nhu cầu, đó là: - Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản của con ngƣời bao gồm: thức ăn, quần áo mặc, chốn ở,. Nhu cầu này xuất hiện trƣớc tiên, phần lớn các hoạt động của con ngƣời nhằm đƣợc thỏa mãn nhu cầu ăn ngon, mặc đẹp này, và trƣớc khi nó đƣợc thỏa mãn, các nhu cầu khác sẽ ít có tác động thúc đẩy. - Nhu cầu an toàn (An ninh): Đây là nhu cầu không bị đe dọa thân thể, sự ổn định về công việc và các điều kiện tốt đẹp để duy trì của cải nhằm đảm bảo cuộc 8 sống trong tƣơng lai. Nếu sự an toàn bị đe dọa, những nhu cầu khác dƣờng nhƣ không quan trọng.
- Nhu cầu xã hội: Nhu cầu đƣợc chấp nhận trong nhóm (tổ chức), cũng nhƣ xây dựng đƣợc các mối quan hệ tốt đẹp với ngƣời khác. - Nhu cầu tôn trọng: Ở mức nhu cầu này, con ngƣời cần cảm thấy tự tin, uy tín, quyền lực,. và cảm thấy mình có ích cũng nhƣ ảnh hƣởng tới môi trƣờng xung quanh. Một số trƣờng hợp con ngƣời không thể thỏa mãn bằng những hành vi xây dựng, thì cá nhân có thể sử dụng những hành vi không chín chắn hoặc phá hoại để đạt đƣợc sự chú ý của ngƣời khác.
- Nhu cầu tự khẳng định mình: Con ngƣời mong muốn tự khẳng định mình, khao khát đƣợc nổi trội và có tiếng tăm trong nhóm và xã hội. Theo Maslow, một nhu cầu nào đó đang là nhu cầu cấp thiết sẽ thúc đẩy và khống chế hành vi của cá nhân, các nhu cầu ở mức thấp sẽ phải đƣợc thỏa mãn trƣớc khi nảy sinh nhu cầu của ngƣời lao động ở mức cao hơn. Quản trị nguồn nhân lực là một quá trình thực hiện các mục tiêu của tổ chức thông qua các hoạt động hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động có liên quan trực tiếp đến các vấn đề thu hút, tuyển mộ, xây dựng, giữ gìn, sử dụng, đãi ngộ và phát triển nguồn nhân lực. Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo, phát triển và duy trì con ngƣời của một tổ chức nhằm đạt đƣợc kết quả tối ƣu cho cả tổ chức lẫn nhân viên [1].
Tuy nhiên, có một điều đáng lƣu ý là khái niệm và thực tiển áp dụng quản trị nguồn nhân lực không giống nhau ở các quốc gia khác nhau. Trong một nền kinh tế chuyển đổi nhƣ Việt Nam, nơi trình độ công nghệ, kỹ thuật còn ở mức độ thấp, kinh tế chƣa ổn định và Nhà nƣớc chủ trƣơng “quá trình phát triển thực hiện bằng con ngƣời và vì con ngƣời” [2]. Từ những quan điểm trên chúng ta có thể nói quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các quan điểm, chính sách và hoạt động thực tiễn đƣợc sử dụng trong quản trị 9 con ngƣời của một tổ chức nhằm đạt đƣợc kết quả tối ƣu cho cả tổ chức và nhân viên. Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực Con ngƣời không chỉ là yếu tố để làm các nhiệm vụ của tổ chức tạo ra những sản phẩm nhƣ tổ chức mong muốn, mà cũng chính là những nhân tố tạo ra những ý tƣởng mới cho tổ chức.
Quản trị nguồn nhân lực bên trong tổ chức cũng nhƣ nhiều dạng quản lý khác nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định của tổ chức. Quản trị nguồn nhân lực tổ chức phải hƣớng đến mục tiêu làm cho tổ chức tồn tại, vận động và phát triển. Quản trị nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động nhằm thu hút hình thành, xây dựng, sử dụng và duy trì phát triển lực lƣợng lao động có hiệu quả đáp ứng nhu cầu hoạt động của tổ chức, đảm bảo thực hiện thắng lợi những mục tiêu và thỏa mãn ngƣời lao động tốt nhất, với mục đích nhằm sử dụng tối đa hiệu quả nguồn nhân lực của đơn vị và cung cấp cho đơn vị nguồn nhân lực có hiệu quả trên cơ sở đóng góp hiệu suất của từng cá nhân ngƣời lao động. Để đạt đƣợc tối đa hiệu quả của tổ chức đòi hỏi phải có sự kết hợp hài hòa các nhân tố trong tổ chức, cần thiết lập một tổ chức dựa trên các tiêu chí cơ bản nhằm làm cho tổ chức hoạt động hiệu quả.
Để hoạt động của tổ chức có hiệu quả, cần tập trung vào các vấn đề: - Mục tiêu, mục đích của tổ chức đƣợc xác định rõ ràng, nên tập trung về vấn đề nào cần giải quyết. - Cơ cấu tổ chức đƣợc thiết kế một cách khoa học, hợp lý và phù hợp với môi trƣờng tổ chức cũng nhƣ mục tiêu của tổ chức. - Nguồn nhân lực bao gồm nguồn nhân lực của tổ chức và khả năng khai thác của tổ chức nguồn nhân lực xã hội nói chung, hay nguồn lực cả bên trong và tiềm năng bên ngoài đƣợc khai thác và sử dụng. Nhƣ vậy mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực tổ chức là phải góp phần một cách hiệu quả nhất để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức và những nhiệm vụ xã hội mà tổ chức phải thực hiện và nhằm cung cấp cho tổ chức một lực lƣợng lao động có 10 hiệu quả (effective).
Nhà quản trị cần có chiến lƣợc để thực hiện tốt 2 mục tiêu cơ bản: Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức. Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên đƣợc phát huy tối đa các năng lực cá nhân, đƣợc khuyến khích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với tổ chức. Các chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực Công tác quản trị nguồn nhân lực tạo nên mối quan hệ gắn kết giữa tổ chức và nhân viên để bộ máy của tổ chức hoạt động đem lại hiệu quả cao nhất. Bao gồm vấn đề thuộc về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhân viên, đồng thời đảm bảo các mục tiêu và lợi ích đạt đƣợc của tổ chức.
Ðể đạt đƣợc các mục tiêu, các nhà quản trị phải biết cách tuyển dụng, đào tạo và phát triển song song với việc duy trì và giữ chân nhân viên để họ gắn bó lâu dài với tổ chức. Nên các hoạt động của quản trị nguồn nhân lực tập trung vào 4 lĩnh vực sau: (1). Chức năng thu hút, tuyển chọn và bố trí nhân sự. Chức năng đào tạo và phát triển.