CHƯƠNG 1 Học viên: Vũ Văn Bình – Lớp QTKD4 – Khóa 2011B 12 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ ÁP DỤNG TRONG DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG Cơ sở lý thuyết về công tác quản lý dự án đầu tư trước hết đi từ các khái niệm , hình thức cũng như đặc điểm của từng yếu tố đầu tư, dự án đầu tư và phương pháp quản lý dự án áp dụng trong dự án đầu tư xây dựng, các mô hình quản lý dự án hiện nay. Trên cơ sở đó để so sánh thực trạng quản lý dự án của doanh nghiệp hiện nay.1 Khái niệm cơ bản về đầu tư Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực trong thời gian dài để thu lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội(1). Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.2 Đặc điểm hoạt động đầu tư Từ các định nghĩa trên, hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau : - Trước hết phải có vốn, vốn bằng tiền hay bằng các loại tài sản khác hay bằng bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ,. vốn có thể là của nhà nước, tư nhân, cổ phần, vay,.
- Thời gian thực hiện tương đối dài, thường là hai năm trở lên. Các hoạt động ngắn hạn dưới một năm tài chính thường không gọi là đầu tư. Do thời gian dài nên người đầu tư và thẩm định đầu tư cần có tầm nhìn xa. (1) Bài giảng phân tích và quản lý dự án – TS Phạm Thị Thu Hà Học viên: Vũ Văn Bình – Lớp QTKD4 – Khóa 2011B 13 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ - Lợi ích của đầu tư mang lại biểu hiện trên hai mặt là lợi nhuận (lợi ích tài chính) và lợi ích kinh tế xã hội.
Nhà đầu tư tư nhân muốn đầu tư sinh lợi nhuận, còn nhà nước đầu tư thì muốn có hoặc lợi nhuận hoặc lợi ích.3 Các hình thức đầu tư a. Phân loại theo chức năng quản lý vốn đầu tư: Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp: Là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Phân loại theo nguồn vốn đầu tư: Nguồn vốn đầu của một đất nước được hình thành từ hai nguồn cơ bản đó là nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Nguồn vốn huy động trong nước: Nguồn vốn trong nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các nguồn lực đưa vào vòng chu chuyển của nền kinh tế. Nó không chỉ bao gồm tiền vốn biểu hiện bằng tài sản hiện vật như máy móc, vật tư, lao động, đất đai, tài nguyên… mà nó còn bao gồm cả những giá trị tài sản vô hình như vị trí địa lý, thành tựu khoa học công nghệ, bản quyền phát minh sáng chế. Vốn đầu tư trong nước được hình thành từ các nguồn sau đây: + Vốn tích luỹ từ ngân sách. + Vốn tích luỹ của các doanh nghiệp.
+ Vốn tiết kiệm của dân cư. Nguồn vốn huy động nước ngoài: Bao gồm vốn đầu tư gián tiếp và vốn đầu tư trực tiếp Vốn đầu tư gián tiếp là vốn của chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ được thực hiện dưới các hình thức khác nhau là viện trợ hoàn lại, viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi với thời hạn dài và lãi suất thấp, kể cả vay theo hình Học viên: Vũ Văn Bình – Lớp QTKD4 – Khóa 2011B 14 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ thức thông thường. Một hình thức đầu tư gián tiếp tồn tại dưới loại hình ODA - viện trợ phát triển chính thức của các nước công nghiệp phát triển. Vốn đầu tư trực tiếp (FDI) là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài đầu tư sang nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý quá trình sử dụng và thu hồi số vốn bỏ ra.1 Khái niệm cơ bản về dự án Theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.(2) Trên phương diện quản lý có thể định nghĩa như sau: Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.
Định nghĩa nhấn mạnh hai đặc tính: Nỗ lực có thời hạn nghĩa là mọi dự án đều có điểm bắt đầu và có điểm kết thúc xác định; Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất là sản phẩm hay dịch vụ khác biệt so với những sản phẩm tương tự hay dự án khác. Qua định nghĩa cho thấy một số đặc trưng cơ bản như sau: - Dự án có mục đích kết quả xác định. - Có chu kỳ phát triển và thời gian tồn tại hữu hạn(vòng đời dự án). - Sản phẩm của dự án có tính chất đơn chiếc, độc đáo(mới lạ).
- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án. - Môi trường hoạt động, va chạm. - Tính bất định và mức độ rủi ro cao. Bất kỳ dự án nào cũng chịu sự ràng buộc bởi kỳ hạn vì mỗi mục tiêu mỗi nhu cầu đều chỉ xuất hiện theo từng thời điểm.
Từ Quang Phương, Giáo trình Quản lý dự án đầu tư, NXB Lao Động- Xã Hội, Hà Nội- 2005, Tr.6 Học viên: Vũ Văn Bình – Lớp QTKD4 – Khóa 2011B 15 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ Bất kỳ sự trễ hạn nào cũng kéo theo một chuỗi nhiều biến cố bất lợi như bội chi, khó tổ chức lại nguồn lực, tiến độ cung cấp thiết bị vật tư…không đáp ứng được nhu cầu sản phẩm vào đúng thời điểm mà cơ hội xuất hiện như dự án ban đầu. Dự án thường bị ràng buộc về nguồn lực vì khi nhắc đến dự án, người ta nhìn thấy ngay các khoản chi phí: tiền bạc, phương tiện, dụng cụ, thời gian, trí tuệ… Các nguồn lực này ràng buộc chặt chẽ với nhau và tạo nên khuôn khổ của dự án. Vấn đề ràng buộc cuối cùng của dự án là dự án luôn tồn tại trong một môi trường không chắc chắn. Tất cả các loại dự án quy mô nhỏ hay quy mô lớn đều được triển khai trong một môi trường luôn biến đổi.
Công tác điều hành dự án do vậy phải tính đến hiện tượng này để phân tích và ước lượng các rủi ro, chọn lựa giải pháp cho một tương lai bất định, đảm nhận và dự kiến những bất lợi có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến dự án, theo dõi và có phản ứng kịp thời đảm bảo cho việc hoàn thành dự án đúng yêu cầu.2 Vòng đời dự án Mỗi dự án đầu tư xây dựng đều có thời bắt đầu và thời điểm kết thúc rõ rang nên dự án có một vòng đời. Vòng đời của dự án bao gồm nhiều giai đoạn phát triển từ ý tưởng đến việc triển khai nhằm đạt được kết quả và đến khi kết thúc dự án. Thông thường dự án có vòng đời bốn giai đoạn: Hình thành – phát triển – thực hiện và quản lý – kết thúc (hình 1.1: Vòng đời dự án(3) (3) Ths. Ngô Lê Minh – Đăng trên tạp chí xây dựng 6/2008 Học viên: Vũ Văn Bình – Lớp QTKD4 – Khóa 2011B 16 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ 1.1 Khái niệm về dự án đầu tư Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm/ dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định.
Theo nghĩa khác, Ngân hàng thế giới cho rằng “Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định”.2 Phân loại dự án đầu tư Phân loại theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư: - Đối với dự án đầu tư trong nước: Để tiến hành quản lý và phân cấp quản lý, tùy theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư, các dự án trong nước được phân theo ba nhóm A, B và C. Trong các nhóm trên thì nhóm A là quan trọng nhất, phức tạp nhất, còm nhóm C là ít quan trọng, ít phức tạp hơn. - Đối với các dự án đầu tư nước ngoài: Gồm ba loại dự án đầu tưlà nhóm A, B và loại được phân cấp cho địa phương. Phân loại theo trình tự lập và trình duyệt dự án: Theo tình tự lập và trình duyệt, các dự án đầu tư được phân ra hai loại: - Nghiên cứu tiền khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.
- Nghiên cứu khả thi: Hồ sơ tình duyệt của bước này gọi là báo cáo nghiên cứu khả thi. Phân loại theo nguồn vốn: Dự án đầu tư trong nước (vốn cấp phát, tín dụng và các hình thức huy động khác) và dự án đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài ( nguồn viên trợ nước ngoài ODA và nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI). Học viên: Vũ Văn Bình – Lớp QTKD4 – Khóa 2011B 17 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ 1.4 KHÁI NIỆM QUẢN LÝ DỰ ÁN 1.1 Khái niệm Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép.