chương 1 Chƣơng 2: Phân tích, đánh giá quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc cho sự nghiệp giáo dục quận ninh Kiều, thành phố Cần Thơ - Khái quát chung về tình hình kinh tế - xã hội quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. - Phân tích quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. - Đánh giá thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. + Những kết quả đạt được.
+ Những hạn chế và nguyên nhân của quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Tóm tắt chương 2 Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc cho sự nghiệp giáo dục quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ - Cơ sở đưa ra giải pháp. - Giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. + Giải pháp hoàn thiện quản lý việc lập dự toán, phân bổ và chấp hành dự toán, quyết toán và kiểm tra quyết toán chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
+ Giải pháp hoàn thiện chế độ quản lý kiểm tra, kiểm soát, các khoản chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục. + Giải pháp thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính đối với sự nghiệp giáo dục. + Giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục. Tóm tắt chương 3 Kết luận và kiến nghị, hạn chế của luận văn 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐỀ TÀI 1.
Khái niệm chi ngân sách nhà nƣớc 1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước Nhìn từ góc độ khái niệm, ngân sách nhà nước cho đến nay có rất nhiều khái niệm (đoạn nay dùng quan niệm hay khái niệm đúng) của các nhà nghiên cứu đưa ra, song vẫn chưa có khái niệm thống nhất. Tuy nhiên khi bàn đến ngân sách nhà nước thì có hai quan niệm phổ biến về ngân sách nhà nước. Quan niệm thứ nhất cho rằng ngân sách nhà nước là bản kế hoạch thu - chi bằng tiền của nhà nước trong một khoảng thời gian xác định. Quan niệm thứ hai cho rằng ngân sách nhà nước là tổng số tiền thu và chi của nhà nước.
Hai quan niệm phổ biến trên chỉ phản ánh được hình thái hoạt động bề ngoài của ngân sách, nhưng nếu nhìn về bản chất bên trong thì chưa thể thực hiện nguồn gốc kinh tế - xã hội của ngân sách. Trong thực tế thuật ngữ thu - chi đã được khái quát hóa, trong đó thu được hiểu là tất cả các nguồn tiền được huy động cho nhà nước còn chi bao gồm các khoản chi và các khoản trả khác của nhà nước, đồng thời hoạt động thu – chi ngân sách được tiến hành rất đa dạng và phong phú trên hầu hết các lĩnh vực, tác động đến mỗi chủ thể kinh tế - xã hội. Như vậy, có thể nói đằng sau hoạt động thu, chi của ngân sách đơn thuần là sự thể hiện các quan hệ kinh tế - xã hội giữa nhà nước với các chủ thể. Như vậy, từ những nội dung trên, ta có thể rút ra khái niệm chung về ngân sách như sau: Xét theo phương diện nội dung bên trong có thể coi ngân sách nhà nước là sự biểu hiện các quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước về cơ bản theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp.
Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, khóa XI, kỳ họp thứ hai, thông qua ngày 16/12/2002, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004, đã nêu: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước, đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”. Đây có thể coi là khái niệm cơ bản được thống nhất khi nghiên cứu về NSNN. Nội dung khoa học của NSNN: là phạm trù kinh tế - lịch sử, là phạm trù kinh tế, NSNN gắn với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa, là phạm trù lịch sử, nó gắn với sự ra đời và phát triển của nhà nước và là công cụ kinh tế của nhà nước. Nhà 11 nước sử dụng ngân sách để thực hiện các quan hệ phân phối dưới hình thái giá trị các nguồn lực tài chính, bằng việc huy động một bộ phận thu nhập của xã hội dưới hình thức thuế và các hình thức động viên khác để đáp ứng các nhiệm vụ kinh tế- xã hội của nhà nước.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm NSNN như sau: NSNN là một khâu của hệ thống tài chính quốc gia, nó phản ánh các quan hệ kinh tế trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ kinh tế- xã hội của nhà nước trong thời kỳ nhất định. Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm. Hệ thống ngân sách nhà nước - Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách và được tổ chức theo một cơ cấu nhất định. - NSNN Việt Nam gồm: NSTW và NSĐP.
NSĐP bao gồm ngân sách các đơn vị hành chính các cấp HĐND và UBND. NSĐP gồm ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, ngân sách xã.1: Sơ đồ hệ thống NSNN Việt Nam - Hệ thống ngân sách nhà nước là tổng thể các cấp ngân sách, có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của mỗi cấp ngân sách. - Theo Hiến pháp ở nước ta, quy định mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình tại địa phương. Cấp ngân sách được hình thành trên cơ sở cấp chính quyền nhà nước.
Để có một ngân sách thì phải có một cấp chính quyền với những nhiệm vụ toàn diện, đồng thời phải có một cấp chính quyền với những nhiệm vụ toàn diện, đồng thời phải có khả năng nhất định về nguồn thu tại địa phương do cấp chính quyền đó quản lý. Phù hợp với mô hình hệ thống chính quyền nhà nước ta hiện nay, hệ thống Ngân sách nhà nước theo luật định bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương, ngân sách địa phương bao gồm: - Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh); - Ngân sách huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện); 13 - Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã) 1. Đặc điểm của ngân sách nhà nước - Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước. - Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước.
- Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng. - Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định. - Hoạt động thu chi ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
- Các hoạt động thu, chi NSNN đều được tiến hành trên cơ sở những quy định của luật và các quy định của nhà nước. Đó là các Luật thuế, các chế độ thu, chế độ, tiêu chuẩn định mức chi tiêu…do nhà nước ban hành. Việc dựa trên cơ sở pháp luật để tổ chức các hoạt động thu, chi của NSNN là một yếu tố có tính khách quan, bắt nguồn từ phạm vi hoạt động của NSNN được tiến hành trên mọi lĩnh vực và có tác động tới mọi chủ thể kinh tế, xã hội. - Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN, quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước là từ giá trị sản phẩm thặng dư của xã hội và được hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến.
- Ngân sách quận thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn quận, đó là mối quan hệ giữa ngân sách với các tổ chức, cá nhân trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của quận, ngân sách cấp quận không có bội chi ngân sách. Quản lý ngân sách quận là quản lý toàn bộ các khoản thu, chi NSNN cấp quận hàng năm qua các khâu: Lập dự toán, phân bổ dự toán, chấp hành dự toán, quyết toán, kiểm tra và thanh tra. Quản lý chi ngân sách nhà nƣớc 1. Chi ngân sách nhà nước - Chi NSNN là một trong hai nội dung cơ bản của hoạt động NSNN, chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN do quá trình thu tạo lập nên nhằm duy trì sự tồn tại, hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước.
14 - Chi NSNN là quá trình nhà nước sử dụng nguồn lực tài chính tập trung để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình trong công việc cụ thể theo không gian và thời gian nhất định. Chi NSNN có quy mô và mức độ rộng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực, ở nhiều địa phương. - Chi NSNN có quan hệ chặt chẽ với thu NSNN. Thu NSNN đảm bảo nguồn cho các nhu cầu chi NSNN.
Ngược lại vốn NSNN để chi cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế là điều kiện để phát triển và tăng nhanh nguồn thu của NSNN. Do vậy, việc sử dụng vốn, chi tiêu NSNN một cách tiết kiệm, hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội và tăng sản phẩm quốc dân.