CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ĐẤT 1. CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1. Khái niệm về chất lượng Chất lượng chính là sự thoả mãn yêu cầu trên tất cả các phương diện về đặc tính kỹ thuật của sản phẩm và dịch vụ đi kèm, giá cả phù hợp, thời hạn giao hàng, tính an toàn và độ tin cậy. Sản phẩm muốn đáp ứng được các yêu cầu sử dụng thì phải có các đặc tính về công dụng phù hợp.
Để tạo ra được tính chất đó cần có những giải pháp kỹ thuật thích hợp. Nhưng chất lượng còn là vấn đề kinh tế, sự thoả mãn của khách hàng không phải chỉ bằng những tính chất công dụng mà còn bằng chi phí bỏ ra để có được sản phẩm đó và sử dụng nó. Bên cạnh đó, chất lượng trong thực tế còn được thể hiện ở khía cạnh thời điểm được đáp ứng yêu cầu. Giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn là một yếu tố vô cùng quan trọng trong thoả mãn nhu cầu hiện nay.
Trong những năm gần đây, sự thoả mãn của khách hàng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như các dịch vụ đi kèm và đặc biệt là tính an toàn đối với người sử dụng, người ta còn hết sức chú trọng “độ tin cậy” của sản phẩm. Định nghĩa chất lượng của tổ chức ISO: Để giúp cho hoạt động quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp được thống nhất, dễ dàng, tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hàng hoá (ISO-Internatinal Organization Standardisation) trong bộ tiêu chuẩn ISO 8402:1994 đã đưa ra định nghĩa chất lượng: ''Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó khả năng thoả mãn những nhu cầu cụ thể hoặc tiềm ẩn”. Định nghĩa này đã được đông đảo các quốc gia chấp nhận và Việt Nam đã ban hành thành tiêu chuẩn quốc gia của mình TCVN 8402:1999. Thoả mãn nhu cầu là điều kiện quan 4 trọng nhất trong việc đánh giá chất lượng của bất cứ sản phẩm hoặc dịch vụ nào và chất lượng là phương diện quan trọng nhất của sức cạnh tranh.
Do tác dụng thực tế của nó, nên định nghĩa này được chấp nhận một cách rộng rãi trong hoạt động kinh doanh quốc tế ngày nay. Chất lượng công trình xây dựng Sản phẩm xây dựng hoàn chỉnh là các công trình hay hạng mục đã xây dựng xong, có thể bàn giao đưa vào sử dụng. Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ xây lắp gắn liền với mặt đất (bao gồm cả khoảng không, mặt nước, mặt biển và thềm lục địa) được tạo thành bằng vật liệu xây dựng, thiết bị và lao động. Sản phẩm xây dựng phải đạt được sự thỏa mãn của khách hàng, tức là các đặc tính vốn có này chính là sự thể hiện của chất lượng sản phẩm xây dựng.
Chất lượng sản phẩm xây dựng (công trình xây dựng) được đánh giá qua các chỉ tiêu: - Độ bền chắc của công trình: Tuổi thọ công trình, khả năng chịu lực theo thiết kế. - Công năng của công trình: Phù hợp với thiết kế, chức năng phục vụ. - Mỹ quan: Hình thức, màu sắc phải phù hợp. - Ảnh hưởng của công trình tới môi trường xung quanh.
Bên cạnh những chỉ tiêu trên công trình xây dựng còn phải thỏa mãn các yêu cầu: - Về kinh tế: Giá thành toàn bộ công trình hoặc giá thành công trình phải nằm trong giới hạn, giá trị phần xây lắp, giá trị phần thiết bị phải nằm trong định mức, phù hợp với túi tiền của chủ đầu tư. - Về thời hạn xây dựng: Công trình phải được hoàn thành đúng các mốc thời gian đã ghi trong hợp đồng.Mỵ Duy Thành 5 - Về an toàn lao động: Đảm bảo an toàn trong suốt quá trình thi công và vận hành sau này. - Về môi trường: Không chỉ từ góc độ tác động của công trình tới các yếu tố môi trường mà cả các tác động theo chiều ngược lại tức là tác động của các yếu tố môi trường tới công trình xây dựng. Cách nhìn nhận về chất lượng công trình Chất lượng sản phẩm xây dựng phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và đưa công trình vào khai thác sử dụng.
Quá trình đó tồn tại song song với các chủ thể có liên quan: Chủ đầu tư (đại diện là Ban QLDA); tư vấn (khảo sát, thiết kế, giám sát. Ba chủ thể này luôn chi phối lẫn nhau, kiểm soát và tác động lẫn nhau. Hệ thống này thường được nhấn mạnh, vừa có quan hệ hành chính, vừa có quan hệ hợp đồng nếu được thực hiện trong một ngành hoặc một địa phương. Mặt khác ai cũng rất coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng nhà nước.
Nhưng ít khi nhấn mạnh, thậm chí bỏ qua một số vấn đề hệ trọng và quyết định đến chất lượng sản phẩm xây dựng là tổ chức kiểm tra của chính nhà thầu. Với tư cách là người làm ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ.các chủ thể không coi trọng chế độ tự kiểm tra của chính mình. Đây là vấn đề luôn tồn tại trong doanh nghiệp xây dựng và tư vấn, là do những vấn đề cơ bản sau đây: - Vấn đề thể chế, chính sách định giá sản phẩm xây dựng - Vấn đề thương hiệu - cạnh tranh lành mạnh - Vấn đề lương tâm nghề và văn hoá doanh nghiệp. QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1.
Khái niệm về quản lý chất lượng Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng 6 mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này. Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng quản lý để xác định và thực hiện chính sách chất lượng. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng.
Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000, quản lý chất lượng là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng. Quản lý chất lượng công trình xây dựng Quản lý chất lượng xây dựng là tập hợp những hoạt động của cơ quan có chức năng quản lý thông qua kiểm tra chất lượng và bảo đảm chất lượng trong tất cả các giai đoạn chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư; kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác và sử dụng. Công trình xây dựng (xây dựng mới, mở rộng, cải tạo nâng cấp.) đều được quản lý chất lượng công trình theo các quy phạm, nghị định, thông tư, quy trình hiện hành. Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tổng hợp của nhiều yếu tố hợp thành, do đó để quản lý được chất lượng công trình thì phải kiểm soát, quản lý được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình, bao gồm: con người, vật tư, biện pháp kỹ thuật và áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến.
Cụ thể các yếu tố như sau: * Về con người: Để quản lý chất lượng công trình tốt thì nhân tố con người là hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình. Cán bộ phải là những kỹ sư chuyên ngành có nhiều kinh nghiệm, có phẩm chất, đạo đức tốt, [2] Tập bài giảng chất lượng công trình (2012) – TS.Mỵ Duy Thành 7 có ý thức trách nhiệm cao; công nhân phải có tay nghề cao, có chuyên ngành, có sức khỏe tốt, ý thức trách nhiệm cao và được đào tạo cơ bản. Nếu kiểm soát tốt chất lượng cán bộ, công nhân thì sẽ kiểm soát được chất lượng công trình góp phần vào việc quản lý tốt chất lượng công trình. Nội dung về quản lý nguồn nhân lực gồm có: - Nguồn nhân lực phải có năng lực dựa trên cơ sở được giáo dục, đào tạo, có kỹ năng và kinh nghiệm thích hợp.
- Đảm bảo sắp xếp công việc sao cho phù hợp với chuyên môn của mỗi cán bộ, công nhân, để phát huy tối đa năng lực của họ. - Lập báo cáo đánh giá năng lực của các cán bộ kỹ thuật, công nhân, hàng năm thông qua kết quả làm việc để từ đó có kế hoạch cụ thể trong việc sắp xếp công việc phù hợp với năng lực của từng người. Đồng thời đó sẽ là cơ sở để xem xét việc tăng lương, thăng chức cho các cán bộ, công nhân. - Lưu giữ hồ sơ thích hợp về trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm chuyên môn, hiệu quả làm việc của mỗi người lao động.
Sau này sẽ dựa vào đó để xem xét lựa chọn người được cử đi học nâng cao chuyên môn, tay nghề. - Cần có chính sách đãi ngộ hợp lý cho cán bộ, công nhân để khuyến khích họ làm việc hăng say và có trách nhiệm trong công việc. Việc khuyến khích phải tuân theo nguyên tắc: + Gắn quyền lợi với chất lượng công việc, lấy chất lượng làm tiêu chuẩn đánh giá trong việc trả lương, thưởng và các quyền lợi khác. + Kết hợp giữa khuyến khích vật chất và tinh thần.
- Ngoài ra cần lập kế hoạch cụ thể cho việc tuyển dụng lao động để đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng nguồn lao động để tránh tình trạng thừa lao động nhưng lại thiếu lao động có tay nghề cao. Kế hoạch tuyển dụng có thể tiến hành hàng năm hoặc 5 năm 1 lần, tùy theo nhu cầu của đơn vị và tính chất công việc. Việc tuyển dụng cần được thực hiện như sau: 8 + Lập hồ sơ chức năng: nêu rõ những yêu cầu, tính chất công việc cần tuyển dụng. + Dự kiến trước nội dung thi và cách thức tổ chức, đánh giá và tuyển chọn.
* Về phương pháp: Trình độ quản lý nói chung và trình độ quản lý chất lượng nói riêng là một trong những nhân tố cơ bản góp phần đẩy mạnh tốc độ cải tiến, hoàn thiện chất lượng công trình. Trong đó quản lý thi công công trình là một khâu quan trọng trong quản lý chất lượng công trình. Phương pháp công nghệ thích hợp, hiện đại, với trình độ tổ chức quản lý tốt sẽ tạo điều kiện tốt cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Quản lý thi công công trình là tổng hợp các hoạt động từ xây dựng hình thức tổ chức thi công thể hiện tính khoa học và kinh tế đến quản lý quy phạm, quy trình kỹ thuật, định mức khối lượng,…quản lý hệ thống hồ sơ công trình theo quy định.