CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC THI CÔNG BÊ TÔNG VÀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG KHI THI CÔNG BÊ TÔNG 1.1 Tổng quan về công tác thi công bê tông Hiện nay, ở Việt Nam vật liệu bê tông, BTCT được sử dụng rộng rãi trên các công trình thủy lợi như đập thủy điện, trạm bơm, cống, âu thuyền, đập tràn vv… Ví dụ: Công trình thủy điện Sơn La với công suất 2400MW, công trình sử dụng bê tông đầm lăn đối với thân đập, bê tông khối lớn đối với hạng mục đập tràn, nhà máy, cửa lấy nước, cống dẫn dòng. Công trình trạm bơm tiêu Yên Sở công suất 90m3/s với các hạng mục nhà trạm, bể hút, bể xả, cống qua đê được xây dựng chủ yếu bởi kết cấu BTCT; Công trình Cống Liên Mạc 1, 2 được xây dựng chủ yếu bằng BTCT. Bê tông được sử dụng rộng rãi bởi nó có những đặc tính ưu việt như: giá thành không cao, có thể gia công thành hình dạng bất kỳ, việc sản xuất có thể cơ giới hóa. Bên cạnh những đặc tính ưu việt của bê tông thì quá trình thi công bê tông không tốt đã gây ra rất nhiều sự cố công trình.
Có thể thống kê trong thời gian gầy đây như: Sự cố vỡ đập BTCT thủy điện la kreela 2 thuộc tỉnh Gia Lai năm 2013 gây thiệt hại hàng trục tỷ đồng.1: Sự cố vỡ đập thủy điện la kreela 2 6 Sự cố rò rỉ nước thấm qua thân đập bê tông Thủy điện Sông Tranh 2 năm 2012, 2013. Khi công trình tiêu tốn 5.100 tỷ đồng chưa phát huy hết tác dụng đã khiến 40.000 hộ dân huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam trong tình trạng nguy hiểm khi xảy ra liên tiếp các trận động đất. Nguyên nhân chính là công trình đặt tại vị trí nguy hiểm, nơi giao điểm của nhiều đứt gẫy và các họng núi lửa đang tái hoạt động. Sự cố rò rỉ nước thấm qua thân đập bê tông Thủy điện Sông Tranh 2 1.1 Tổng quan về thi công bê tông công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Hiện nay trên địa bàn Thành phố Hà Nội có 20 tuyến đê chính với tổng chiều dài 564,083 Km. Trên các tuyến đê có 194 cống qua đê, ngoài ra một số cống trọng điểm như Cống Cẩm Đình, cống Long Tửu, cống Liêm Mạc 1,2 vv. Các cống này thường gồm 3 phần: Cửa vào, cửa ra, thân cống, các bộ phận này được thiết kế bằng bê tông, BTCT. Trên các tuyến đê có 120 kè hộ bờ với tổng chiều dài là 148,889 km.
Hệ thống kè hộ bờ thường gồm 3 phần là: Chân kè bằng đá hộc và rọ đá, mái kè bố trí khung bằng BTCT và lát đá hộc, đỉnh kè bằng BTCT. Hai công trình đầu mối phân lũ là Vân Cốc và Đập Đáy và 25 vị trí đường tràn điều tiết chủ yếu thuộc huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức. Các công trình này thường được bố trí kết cấu chủ yếu là bê tông, BTCT khối lớn. 7 Thành phố có 29 hồ chứa có dung tích 0.22 đến 62 triệu m3 như: Hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô, hồ Quan Sơn, hồ Đồng Sương, hồ Văn Sơn, hồ Miễu vv… Hệ thống các hồ chứa này thường gồm 3 phần chính là: Đập chính thường là đập đất, cống xả, tràn xả lũ thường được thiết kế bằng BTCT khối lớn hoặc ruột đá hộc vỏ BTCT.
Hệ thống kênh hiện có 9.775km kênh mương tưới và 4.593 km kênh tiêu. Hệ thống kênh tiêu lớn chủ yếu là kênh đất chưa được kiên cố hóa. Như vậy có thể nói việc sử dụng bê tông thủy công trong các công trình thủy lợi là hết sức đa dạng, từ các hạng mục của hồ chứa như đập tràn, cống cho đến các công trình kè, đập dâng, trạm bơm, kênh. Vì vậy mà việc quan tâm đến công tác kiểm soát chất lượng thi công bê tông công trình thủy lợi là hết sức cần thiết.2 Tổng quan về thi công bê tông trạm bơm trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Hiện nay trên toàn thành phố có 1.164 trạm bơm với tổng số 3. Các doanh nghiệp thủy lợi quản lý 497 trạm bơm với 2.132 máy bơm các loại, trong đó có 271 trạm bơm tiêu và tưới kết hợp với 1.673 máy bơm, tổng năng lực bơm tiêu khoảng 3,7 triệu m3/h (03 máy loại 25. Một số công trình trạm bơm trọng điểm như: Trạm bơm đầu mối Yên Sở thuộc đê hữu Hồng quận Hoàng Mai với công suất 90m3/s; có 2 cống 3 cửa dài 203m bằng BTCT. Hệ thống kênh dài 6586 m.
Trạm bơm được xây dựng đưa vào sử dụng năm 1999 và 2011 với nhiệm vụ tiêu nước thải cho thành phố Hà Nội. Đa số các trạm bơm trên địa bàn được xây dựng từ những năm 70÷ 80, hiệu suất bơm giảm, hiệu quả bơm tiêu thấp. Các hạng mục thi công bê tông như bể hút, bể xả, nhà trạm đều bị xuống cấp: Hiện tượng lún không đều do nền đất yếu gây ra gẫy, nứt các bộ phận công trình; Hiện tượng thấm dột trần nhà máy, thấm qua bê tông tường bể xả và các bộ phận khác do bê tông thi công bị rỗ, không đặc chắc; bê tông bị ăn mòn hở cốt thép ở trụ pin và buồng hút do môi trường nước bị ô nhiễm vv… Các công trình Trạm bơm trên địa bàn Thành phố Hà Nội hầu hết đều nằm ven đê, sông, hồ với kết cấu chủ yếu là BTCT. Ví dụ như: Trạm bơm Hòa Lạc nằm ven 8 đê sông Mỹ Hà, trạm bơm Vân Đình nằm ven đê Sông Đáy vv.
Đặc điểm địa chất ở các vùng đặt trạm bơm thường là các vùng đất yếu hoặc có hiện tượng cát đùn cát chảy, mực nước thay đổi. Vì vậy, để đảm bảo chất lượng thi công bê tông các công trình trạm bơm thì ngoài việc tuân thủ các quy trình quy phạm còn phải có biện pháp thi công hợp lý.3 Phân loại bê tông [13] 1.1 Phân loại theo khối lượng thể tích. - Bê tông đặc biệt nặng, có khối lượng thể tích lớn hơn 2500 kg/m3; - Bê tông nặng, có khối lượng thể tích từ 1800÷2500 kg/m3; - Bê tông nhẹ, có khối lượng thể tích từ 500÷1800 kg/m3; - Bê tông đặc biệt nhẹ, có khối lượng thể tích nhỏ hơn 500 kg/m3; 1.2 Phân loại theo công dụng của bê tông. - Bê tông thường dùng cho kết cấu BTCT (móng, cột, dầm, sàn, cầu và các loại kết cấu khác); - Bê tông thủy công dùng cho trạm bơm, đập, cống, âu thuyền, phủ lớp mái kênh, công trình dẫn nước vv…; - Bê tông làm kết cấu bao che (bê tông nhẹ dùng cho tường nhà); - Bê tông làm sàn, vỉa hè, lớp phủ mặt đường và sân bay; - Bê tông có công dụng đặc biệt như bê tông chịu nhiệt, bê tông chịu a xít, bê tông chống phóng xạ.
Bê tông dùng cho các công trình thủy lợi phải có độ đặc chắc cao, tính chống thấm tốt, cường độ đảm bảo, độ co nhỏ, chống được xâm thực của nước khoáng và phát nhiệt ít khi cứng hóa. Bê tông thủy công có thể phân loại theo các cách sau đây: - Phân theo vị trí của bê tông đối với mực nước: Bê tông thường xuyên nằm trong nước; Bê tông ở vùng mực nước thay đổi; Bê tông trên khô (nằm trên phạm vi mực nước thay đổi). - Phân theo hình khối của kết cấu: Bê tông khối lớn; Bê tông khối nhỏ. - Phân theo vị trí của bê tông ở trong kết cấu khối lớn: Bê tông ở mặt ngoài; 9 Bê tông ở bên trong.
- Phân theo cột nước tác dụng lên công trình: Bê tông chịu áp lực nước; Bê tông không chịu áp lực nước. Trong nội dung của luận văn tác giả tập trung nghiên cứu về bê tông thủy công phục vụ cho công tác thi công công trình trạm bơm.2 Đặc điểm của bê tông thủy công - Đặc điểm cơ bản của bê tông hay bê tông thủy công là khả năng chịu nén tốt, chịu kéo kém. Vì vậy khi phối hợp với cốt thép tạo thành BTCT có khả năng chịu kéo và chịu nén tốt. - Môi trường làm việc của bê tông các kết cấu công trình thủy lợi nằm ở trong đất dưới mực nước ngầm (bê tông thường xuyên nằm dưới nước) hoặc các kết cấu công trình thủy lợi nằm ở trong đất có mực nước ngầm thay đổi (khô ẩm liên tiếp) hay bê tông định kỳ có nước tràn qua (bê tông nằm ở vùng có mực nước thay đổi).
- Bê tông thủy công khi làm việc trong môi trường nước ngọt mực nước luôn thay đổi thành phần Ca(OH) 2 do C 3 S của xi măng thủy phân sẽ tan trong môi trường nước gây ra hiện tượng xâm thực ngày càng nghiêm trọng. Tuy nhiên nếu giảm thành phần C 3 S trong xi măng thì khả năng chống xâm thực tăng nhưng cường độ bê tông giảm. Vì vậy, tùy thuộc vào điều kiện làm việc và yêu cầu về cường độ mà chọn loại xi măng phù hợp. - Bê tông thủy công khi làm việc trong môi trường nước biển thì phải chống được sự phá hoại của nước biển, được sản xuất theo tiêu chuẩn riêng.
Bởi vì trong môi trường nước biển thường có muối sunfat như CaSO 4 , MgSO 4 vv…Các muối này phân ly trong nước khi gặp Ca(OH) 2 tạo thành CaSO 4 .2H 2 O và thể tích nở ra làm nứt nẻ công trình. Vì vậy phải dùng xi măng chống sunfat. - Bê tông thủy công khi làm việc trong môi trường nước bị ô nhiễm như nước thải công nghiệp, axít như HCl, H 2 SO 4 vv… khi gặp Ca(OH) 2 tạo ra CaCl 2 có độ hòa tan lớn hay CaSO 4 gây xâm thực nứt nẻ công trình như trường hợp trên. Vì vậy phải dùng xi măng chống axit.
- Bê tông thủy công thường phải làm việc trong môi trường nước có áp sinh ra 10 dòng thấm vì vậy bê tông phải có mác chống thấm phù hợp với tỷ số giữa cột nước tác dụng lớn nhất và bề dày lớp bên ngoài kết cấu.3 Hệ thống văn bản pháp quy về kiểm soát chất lượng thi công bê tông[8][5] Việc QLCL thi công bê tông phải tuân theo Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ về QLCL công trình xây dựng và Thông tư số 10/2013/TT-BXD ngày 25/7/20113 quy định chi tiết một số nội dung về QLCL công trình xây dựng.