CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC LẬP VÀ THỰC HIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. CÔNG TÁC LẬP VÀ THỰC HIỆN QUY HOẠCH VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP LẬP QUY HOẠCH. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm có lượng mưa khá lớn trung bình khoảng 1800mm/năm.Tổng lượng nước phát sinh trong nước và từ nước ngoài chảy qua lãnh thổ đạt tới 843 tỷ m3 nếu tính bình quân đầu người thì nước ta là nước có nguồn nước được xếp vào loại các nước khá phong phú. Tuy nhiên nguồn nước này lại phân bố rất không đều theo không gian và thời gian gây tình trạng lúc úng, lúc hạn, nơi thừa, nơi thiếu gây khó khăn rất lớn cho việc phát triển kinh tế và người dân nhất là trong các vùng ở miền Trung nước ta.
Hơn nữa 63% nguồn nước chảy qua nước ta là từ lãnh thổ các nước khác chảy vào nên việc khai thác sử dụng phụ thuộc rất lớn vào các nước thượng du. Trong hơn 50 năm qua được sự đầu tư rất lớn của Đảng, nhà nước và đóng góp của toàn dân, công tác phát triển thuỷ lợi đã đạt được thành tựu to lớn góp phần vô cùng quan trọng vào sự phát triển các ngành kinh tế, xã hội, dân sinh, cải thiện môi trường sinh thái và đặc biệt là góp phần vào sự phát triển nông nghiệp không những đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới. Tuy nhiên do các hệ thống công trình thuỷ lợi được xây dựng bằng nhiều nguồn vốn, nhiều biện pháp thi công khác nhau trải qua nhiều thời kỳ nên các công trình này lại chưa đồng bộ - chủ yếu mới tập trung vào công trình đầu mối và kênh chính, công tác duy tu bảo dưỡng không thường xuyên, quản lý còn bị coi nhẹ nên nhiều công trình đã xuống cấp dẫn đến hiệu quả công trình thấp. Các công trình chống lũ và giảm nhẹ thiên tai đã được quan tâm, song do nền móng yếu, hệ thống đê sông nhiều đoạn còn chưa đủ tiêu chuẩn thiết kế, hệ thống đê biển mới chống -7- được sóng bão với tần suất thấp chưa đủ năng lực bảo vệ dân cư và các công trình kinh tế trong vùng bị ảnh hưởng.
Phát triển thuỷ lợi trong tình hình mới đứng trước rất nhiều thách thức. - Kinh tế xã trong nước phát triển nhanh chóng nhất các khu công nghiệp, các khu đô thị các khu dân cư và làng nghề trong các hệ thống công trình thuỷ lợi đã vượt quá năng lực công trình đảm nhận đặc biệt là tiêu nước và xử lý nước thải. - Dân số tăng dẫn đến nhu cầu về nước sẽ tăng cả về chất lẫn lượng. - Theo các kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là sự thật.
Việt Nam được cảnh báo là một trong số ít quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất do ảnh hưởng của nước biển dâng, suy thoái nguồn nước đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. - Khủng hoảng năng lượng đã tác động xấu đến phát triển kinh tế xã hội. Trước tình hình biến động khắc nghiệt của nền kinh tế thế giới, vấn đề bảo đảm chiến lược an ninh lương thực quốc gia trong giai đoạn mới, Thuỷ lợi được coi là biện pháp hàng đầu để đảm bảo phát triển nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, thuỷ sản, du lịch và các ngành kinh tế khác thích nghi với mọi điều kiện biến đổi do tác dụng của biến đổi khí hậu gây ra. Vì vậy việc triển khai xây dựng chiến lược phát triển thuỷ lợi Việt nam đến 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 là nhiệm vụ cần thiết cà bức bách của ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ tài nguyên nước là bước nghiên cứu đầu tiên nhằm tìm ra các giải pháp kỹ thuật và bước đi thích hợp cho quá trình khai thác sử dụng và bảo vệ nguồn nước cũng như phòng chống tác hại của chúng để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ngắn, trung và dài hạn. Quy hoạch thuỷ lợi được lập thành đồ án quy hoạch, trong đó có các nội dung sau: Đánh giá tiềm năng của các nguồn nước và xác định nhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế - xã hội, yêu cầu bảo vệ nguồn nước và phòng chống tác hại của chúng. Xác định rõ phương hướng và nhiệm vụ phát triển tài nguyên nước. -8- Đề ra các giải pháp kỹ thuật (công trình và không công trình) nhằm khai thác, bảo vệ các nguồn nước và phòng chống tác hại của chúng một cách hợp lý, có hiệu quả và đảm bảo sự phát triển nguồn nước một cách bền vững.
Kiến nghị trình tự hợp lý thực hiện các giải pháp kỹ thuật đề ra. Kiến nghị các vấn đề cần nghiên cứu tiếp. Theo phạm vi địa bàn, quy hoạch tài nguyên nước được phân ra các loại sau đây: Một là, quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông nhằm phát triển nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong một lưu vực sông, trong đó đề xuất yêu cầu bổ xung, điều chỉnh nguồn nước để quy hoạch tài nguyên nước liên lưu vực hoặc toàn quốc giải quyết. Hai là, quy hoạch tài nguyên nước vùng kinh tế nhằm phát triển nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế xã hội của một vùng kinh tế - hoặc một đơn vị hành chính, trong đó đề xuất yêu cầu bổ sung, điều chỉnh nguồn nước để quy hoạch lưu vực sông hoặc liên lưu vực sông giải quyết.
Ba là, quy hoạch tài nguyên nước toàn quốc liên lưu vực sông nhằm phát triển nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế xã hội trong toàn quốc hoặc liên lưu vực sông, chỉ đạo và thống nhất các quy hoạch lưu vực sông và quy hoạch vùng, điều chỉnh bổ sung nguồn nước cho các vùng và lưu vực thiếu nước hoặc điều chỉnh nhu cầu nước của các vùng đó đảm bảo sự hợp lý và hiệu quả chung. Trong một lưu vực sông các chế độ khí tượng thuỷ văn có quan hệ mật thiết trong một môi trường tự nhiên, mọi giải pháp kỹ thuật tác hại đến nguồn nước trong lưu vực đều có ảnh hưởng tác động đến nhau và đến điều kiện tự nhiên của cả lưu vực. Vì vậy quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông là cơ bản nhất. Quy hoạch lưu vực và quy hoạch toàn quốc bổ sung cho nhau vì những chi tiết về tài nguyên và tiềm năng phát triển của quy hoạch lưu vực sẽ được cấp cho quy hoạch tài nguyên nước toàn quốc, trong khi các quyết định điều chỉnh về chính sách, kinh tế và công trình xuất phát từ quy hoạch toàn quốc và phải được phản ánh trong quy hoạch lưu vực.
Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai loại quy hoạch đòi hỏi -9- chúng phải được phát triển thông qua một quy trình tương tác. Hiện nay Việt Nam đã lập một số quy hoạch lưu vực ở nhiều mức độ khác nhau, và giai đoạn tiếp theo cần phát triển quy hoạch cho toàn quốc. HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC LẬP VÀ THỰC HIỆN QUY HOẠCH HIỆN NAY. Sơ lược lịch sử phát triển quy hoạch thuỷ lợi ở Việt Nam.
Công tác quy hoạch tài nguyên nước ở Việt Nam được bắt đầu từ năm 1961 với quyết định của Hội đồng Chính phủ thành lập Uỷ ban trị thuỷ và khai thác sông Hồng với nhiệm vụ: Nghiên cứu lập quy hoạch trị thuỷ và khai thác tổng hợp hệ thống sông Hồng phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, góp phần đấu tranh thống nhất Tổ quốc với 5 lĩnh vực. - Quy hoạch phòng chống lũ lụt. - Quy hoạch cấp thoát nước. - Quy hoạch vận tải thuỷ.
- Quy hoạch thuỷ điện. - Quy hoạch tổng sơ đồ khai thác bậc thang. Tiền thân của quy hoạch thuỷ lợi là những bản “Nhiệm vụ thiết kế công trình thuỷ lợi”. Khi quy hoạch hệ thống thuỷ nông Bắc Hưng Hải thì quy hoạch thuỷ lợi (quy hoạch tài nguyên nước) mới được hiểu và sử dụng rộng rãi.
Từ quy hoạch thuỷ nông của vùng đồng bằng 150.000 ha này đến quy hoạch trị thuỷ và khai thác sông Hồng là một bước nhảy vọt về chất trong quá trình hình thành phát triển quy hoạch thuỷ lợi ở nước ta. Trong thời buổi sơ khai, lực lượng điều tra khảo sát quy hoạch đã vươn lên làm đồng thời cả hai việc. Một là, xây dựng lực lượng điều tra cơ bản toàn diện để xác định hiện trạng và các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội để đánh giá đặc điểm của tài nguyên nước, làm cơ sở tin cậy cho việc nhận định các vấn đề về nước ở lưu vực. Hai là, nghiên cứu lập quy hoạch trị thuỷ và khai thác sông Hồng, phân tích đánh giá hiện trạng công trình thuỷ lợi đã có, nghiên cứu lịch sử hình thành những tuyến đê, kè, cống, quá trình hình thành và diễn biến các dòng sông ở hạ du.
-10- nghiên cứu lập quy hoạch chống lũ, cấp thoát nước, vận tải thuỷ, thuỷ điện và tổng hợp sơ đồ khai thác bậc thang. Sự phối hợp hài hoà của các mặt quy hoạch là kết quả lao động sáng tạo của những người làm quy hoạch. Công tác quy hoạch đã thực hiện được mục tiêu đi trước một bước để chuẩn bị cho những công trình mới ra đời. Tính đến năm 1975 ở miền núi đã lập được phương hướng quy hoạch thuỷ lợi 5 tỉnh trong lưu vực, quy hoạch thuỷ lợi các huyện trọng điểm, quy hoạch cấp nước ăn vùng cao.
Đối với đồng bằng và trung du thì rà soát bổ sung và lập quy hoạch hoàn chỉnh thuỷ nông cho 20 khu thuỷ lợi và hệ thống hiện có. Từ quy hoạch sông Hồng đã ra đời nhiều hồ chứa lớn có tác dụng quan trọng đối với nền kinh tế như hồ Hoà Bình, hồ Thác Bà. Từ quy hoạch thuỷ lợi sông Nậm Rốm đã ra đời hồ chứa nước Pa Khoang, quy hoạch Quảng Ninh đưa ra hồ Trúc Bài Sơn. tỉnh Thanh Hoá làm quy hoạch vùng Nam Bắc Mã.
Vào Nghệ An có quy hoạch vùng Nam Hưng Nghi, Phú Quỳ. ở Hà Tĩnh có quy hoạch tưới sông Nghèn làm cơ sở cho sự ra đời của trạm bơm Linh Cảm. cho tới năm 1975 ở khắp các địa phương trên miền Bắc, tuy vẫn còn phải bổ sung, hoàn thiện và nâng cao, nhưng quy hoạch thuỷ lợi về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu thiết kế, thi công cho các công trình thuỷ lợi từ loại nhỏ, vừa đến lớn. Sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng, công tác quy hoạch thuỷ lợi được triển khai trên toàn đất nước Việt Nam.