Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE NANG CAO NHAN THỨC CUA HỌC VIÊN HOC VIEN KHOA HỌC QUAN SỰ VE “TU DIEN BIEN”, “TỰ CHUYEN HOA” 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhận thức Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về nhận thức: Nhận thức là một hoạt động đặc trưng của con người. Trong quá trình sống và hoạt động con người nhận thức được hiện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với chính bản thân mình.
Vì vậy có thể nói, hoạt động nhận thức có vai trò đặc biệt quan trọng, nhờ có nhận thức mà con người làm chủ được tự nhiên, làm chủ được xã hội và làm chủ được chính bản thân mình. Quan niệm này đã khăng định, nhận thức của con người là một hoạt động và hoạt động này diễn ra thường xuyên liên tục trong đời sống, giúp con người có thé tồn tại và phát trién. Theo quan điểm của K.Platônôp - nhà Tâm lý học Liên Xô: “Nhận thức là quá trình thu nhận những tri thức chân thực trong thé giới khách quan trong quá trình hoạt động xã hội”. Nói đến nhận thức tức là nói đến tính tích cực của con người, nói đến khả năng phản ánh những thuộc tính của sự vật, hiện tượng, mối quan hệ của chúng trong hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Con người song trong những điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội nhất định, đòi hỏi phải nhận thức được các quy luật của tự nhiên, cải tạo xã hội phục vụ cho mục đích của con người. Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê: “Nhận thức là một quá trình hoặc kết quả của sự phản ánh và tái hiện hiện thực và trong tư duy, là quá trình con người nhận biệt, hiéu biệt về thê giới quan hoặc kêt quả của quá 16 trình đó” [63, tr. Trong định nghĩa này, tác giả đã nhân mạnh, nhận thức là một quá trình phản ánh hiện thực khách quan. Theo từ điển Giáo dục học của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa: “Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể” [5S].
Trong từ điển Tâm lý học, tác giả Nguyễn Khắc Viện định nghĩa: “Nhận thức là một quá trình tiếp cận, tiếp gần đến chân lý nhưng không bao giờ ngừng ở trình độ nào vì không bao giờ nắm bắt hết được toàn bộ hiện thực, phải thấy dần những cái sai, tức không ăn khớp với hiện thực dé đi hết bước này đến bước khác” [78]. Trong định nghĩa này Nguyễn Khắc Viện khẳng định nhận thức là một quá trình liên tục không có điểm dừng lại, không có hồi kết mà chỉ có những kết quả tạm chấp nhận ở thời điểm hiện tại. Theo quan điểm của triết hoc Mác - Lénin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn. Từ phân tích trên, tác giả luận văn thống nhất với cách hiểu Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.
“Tự diễn biến”, “tự chuyễn hoá” “Tự diễn biến”: Theo Từ điển tiếng Việt “diễn biến” là diễn ra sự biến đổi theo chiều hướng nào đó như: Diễn biến tư tưởng, tư tưởng có nhiều diễn biến phức tạp” [63, tr. Theo nghĩa thông thường, khái niệm “tự diễn biến” dùng dé chỉ quá trình tự vận động của sự vật, hiện tượng; là quá trình tự biến đổi bên trong của sự vật theo một chiều hướng nhất định. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và trong Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt 17 Nam, khái niệm “tự diễn biến” được sử dụng không theo nghĩa như vậy, mà theo nghĩa là sự suy thoái, biến chất về tư tưởng chính trị, về đạo đức và lối sống của cán bộ, đảng viên. Thuật ngữ “tự diễn biến”, “tự chuyên hóa” được đề cập trong các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng như là sự nhận diện về một trong những nguy CƠ đối với sự tồn tại của Đảng và chế độ chính trị ở nước ta.
Nhận rõ tính chất nguy hiém của yếu tô “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong nhiều năm qua, Đảng ta từng cảnh báo về tình trạng này. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là thuật ngữ chính trị - pháp lý đã được khang định trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng: “Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyên hóa” trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính tri, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên” [13, tr. Đại hội XII của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Tang cường xây dựng, chỉnh đốn Dang; ngăn chặn, day lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyền hoá” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” [15, tr.
“Tự diễn biến” là quá trình tự vận động, biến đồi từ bên trong của chủ thể. Quá trình này diễn ra có thé cho hai kết quả, tích cực hoặc tiêu cực. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên thì đây là quá trình biến đổi theo chiều hướng từ đúng sang sai, từ tốt sang xấu, từ tích cực sang tiêu cực, từ tiễn bộ sang phản tiễn bộ trong nhận thức, niềm tin và hành động. Biểu hiện rõ nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lỗi sống ngày càng xa rời mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xa rời đường lối của Đảng.
“Tự diễn biến” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên còn được hiểu là quá trình đấu tranh giữa các mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng XHCN và 18 TBCN trong nội tâm mỗi cá nhân trước những tác động phức tạp của tình hình trong nước, quốc tế, chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Trong đó, yếu tố tiêu cực và tư tưởng TBCN dan dan tăng lên; yếu tố tích cực, cách mạng, tư tưởng XHCN phai nhạt dần. Đây là quá trình biến đổi từ bên trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, đến một thời điểm nhất định, sự biến đôi này sẽ chuyên hóa thành hành động của họ. Theo đó, khi yếu tố tiêu cực dan dan tăng lên; yếu tổ tích cực, cách mạng phai nhạt dan thì sẽ diễn ra sự nối tiếp của quá trình “tự diễn biến” đó là “tự chuyên hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Như vậy, “tự diễn biến” là quá trình diễn ra sự thay đổi từ nội bộ bên trong tổ chức hoặc cá nhân; là quá trình tự biến đổi về tư tưởng, chính tri, đạo đức, lối sống theo chiều hướng tiêu cực, đi ngược lại với chuẩn mực, giá tri của xã hội. Từ cách tiếp cận trên có thé hiểu: “Tự dién biến” là sự dao động về chính trị, mat định hướng, suy giảm niềm tin vào đường lỗi cách mạng, con đường di lên CNXH. “Tự chuyển hóa ”: Theo Từ điển tiếng Việt “chuyên hóa” là biến đôi sang dạng hoặc hình thái khác” [67, tr. Theo nghĩa thông thường, khái niệm “tự chuyển hóa” dùng để chỉ quá trình tự biến đổi của sự vật, hiện tượng sang một cấu trúc, một dạng tồn tại, một chất mới.
Trong Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm “tự chuyển hóa” được sử dụng theo nghĩa là sự biến đổi về lập trường, quan điểm, tư tưởng, thái độ, hành vi, lối sống của cán bộ, đảng viên theo hướng đối lập với trạng thái ban đầu. “Tự chuyển hoá” là quá trình thay đổi về chất trong quan điểm, tư tưởng, phẩm chất và hành động của chủ thể. Đây là cấp độ cao hơn của quá trình “tự diễn biên” biêu hiện sự thay đối về chat của quan điểm chính trị, đạo 19 đức, lối song, khiến cho mỗi cá nhân không còn là chính mình nữa, chăng những đánh mat vai trò tiên phong, gương mau mà có khi trở thành kẻ phan bội, chống lại Đảng va Nhà nước ta, thậm chí chuyên sang hàng ngũ kẻ thù. Nhu vậy, “tự chuyển hoá” là hệ quả tất yếu, sự nối tiếp của quá trình “tự diễn biến”, là quá trình biến đổi về chất các quan điểm, tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một cá nhân.
Từ cách tiếp cận trên có thể hiểu: “7 chuyên hóa” là quá trình bién chat của chính học viên, làm cho người học mat phương hướng, không còn là chính họ nữa mà trở thành một con người khác, chuyến hóa về “chất”, theo hướng tiêu cực, “tự đánh mat minh”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình thay đổi từ bên trong mỗi chủ thể theo chiều hướng xấu, từ đúng sang sai, từ tốt sang xấu, từ tích cực sang tiêu cực, từ tiến bộ sang phản tiến bộ, nếu không ngăn chặn, khắc phục kịp thời và hiệu quả sẽ dẫn đến tha hóa, biến chất. Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên thì “tự diễn biến”, “tự chuyên hóa” là một quá trình tự vận động, thay đổi từ nhận thức đến hành động của chủ thể, từ lựa chọn chế độ XHCN đến lựa chọn chế độ TBCN. Quá trình này chịu sự tác động, chi phối của nhiều nhân tô khách quan và chủ quan, song nhân tổ chủ quan là chủ yếu.
Quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyền hóa” đều dẫn đến các mục tiêu, kết quả như: Phủ định chủ nghĩa Mác - Lénin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, phủ định vai trò lãnh đạo cua Dang Cộng sản Việt Nam. “Tự diễn biến”, “tự chuyên hoá” của cá nhân nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tô chức bị suy thoái, tự tan rã. Khi “tự diễn biên”, “tự chuyên hoá” diện ra ở tâm vĩ mô sẽ dân đên sự chuyên hoá từ chê độ XHCN sang phát triển theo con đường TBCN. 20 Từ cách tiếp cận trên có thê hiểu: “7 diễn biến”, “tự chuyển hóa ” là một , quá trình diễn ra dân dân, “tích tiểu thành đại”, tích “lượng” thành “chất”, đến khi làm “biến chất” của học viên.
Quá trình này diễn ra trên tất cả các mặt: chính trị, tư tưởng, tinh thần, lỗi sống, văn hóa, quan hệ ứng xử,.cả bề ngoài và đời sống nội tâm của học viên.