Tổng quan luận án

Công trình "Tính tích cực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan quân đội" do nghiên cứu sinh Vũ Thế Bình thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Nguyễn Văn Tuân và PGS, TS Nguyễn Thị Tình, bảo vệ tại Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng năm 2019, thuộc chuyên ngành Tâm lý học (mã số: 9 31 04 01). Luận án được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về tính tích cực giảng dạy của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) trong môi trường đào tạo sĩ quan quân đội.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hoạt động giảng dạy là hoạt động chuyên biệt của người thầy nhằm hình thành và phát triển nhân cách người học. Trong hệ thống các môn học tại các trường sĩ quan quân đội, các môn KHXH&NV (bao gồm: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tâm lý học quân sự, Giáo dục học quân sự, Công tác đảng, công tác chính trị, Nhà nước và Pháp luật, Xã hội học quân sự) đóng vai trò xây dựng thế giới quan khoa học, niềm tin và bản lĩnh chính trị cho học viên. Tuy nhiên, tính chất của các môn học này có tính trừu tượng và khái quát cao, đòi hỏi giảng viên phải có tính tích cực giảng dạy cao.

Thực tế tại các nhà trường quân đội, Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2011 - 2020 đã chỉ ra một bộ phận cán bộ, giảng viên nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của các môn KHXH&NV, năng lực còn hạn chế, chưa thực sự chủ động, hăng hái, khắc phục khó khăn và hiệu quả giảng dạy chưa cao. Mặt khác, các công trình khoa học trước đây chủ yếu nghiên cứu về tính tích cực học tập, tính tích cực lao động hoặc tính tích cực giảng dạy chung ở các trường đại học dân sự; chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn KHXH&NV tại các trường sĩ quan quân đội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn KHXH&NV, từ đó đề xuất các biện pháp tâm lý - sư phạm phát triển tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn KHXH&NV, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở các trường sĩ quan quân đội.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
    2. Xây dựng cơ sở lý luận về tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội.
    3. Khảo sát, đánh giá thực trạng mức độ tính tích cực giảng dạy và các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội.
    4. Đề xuất các biện pháp tâm lý - sư phạm phát triển tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội.

Giả thuyết khoa học

  • Tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội đang phát triển ở mức độ cao, biểu hiện ở tính chủ động, tính hăng hái, tính vượt khó và tính hiệu quả trong giảng dạy.
  • Các mặt biểu hiện của tính tích cực giảng dạy có mối quan hệ thống nhất, chặt chẽ nhưng mức độ không ngang bằng nhau, trong đó tính hăng hái có chỉ số mức độ biểu hiện thấp hơn các mặt còn lại.
  • Tính tích cực giảng dạy chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó nhóm yếu tố chủ quan có ảnh hưởng mạnh hơn.
  • Việc xác định và tác động đồng bộ các biện pháp tâm lý - sư phạm phù hợp vào các thành phần biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng sẽ giúp phát triển tính tích cực giảng dạy của giảng viên.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện, mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội.
  • Khách thể nghiên cứu: Giảng viên các môn KHXH&NV, cán bộ quản lý và học viên tại các trường sĩ quan quân đội.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Nghiên cứu 4 biểu hiện thành phần (tính chủ động, tính hăng hái, tính vượt khó, tính hiệu quả) qua 4 khâu của quá trình dạy học (chuẩn bị lên lớp; thực hiện bài giảng trên lớp; rút kinh nghiệm bài giảng; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên) và các yếu tố ảnh hưởng (chủ quan, khách quan).
    • Về không gian và khách thể: Khảo sát tại 4 trường sĩ quan quân đội bao gồm Trường Sĩ quan Chính trị (SQCT), Trường Sĩ quan Lục quân 1 (SQLQ1), Trường Sĩ quan Thông tin (SQTT) và Trường Sĩ quan Pháo binh (SQPB).
    • Về thời gian: Khảo sát, điều tra và thu thập số liệu trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

  • Nghiên cứu về biểu hiện của tính tích cực: Khổng Tử và Socrate thời cổ đại đã đề cao việc kích thích tư duy người học và vai trò người dạy. A. Serbalop nhấn mạnh khả năng định hướng nhiệm vụ, hứng thú, sự căng thẳng trí tuệ và ý chí kiên trì. G. I. Sukina phân loại tính tích cực thành tái hiện - bắt chước, tìm tòi và sáng tạo. Romanop xác định tính tích cực là tính chủ định của ý thức, tiêu hao năng lượng tâm lý - sinh lý và khả năng cải tạo, sáng tạo. S. Iukevich chỉ ra 3 dấu hiệu bản chất: gắn liền với hoạt động, thể hiện tính sẵn sàng (nhu cầu) và tính chủ động. D. N. Udonatde khẳng định tính tích cực biểu hiện qua tính chủ thể, tính đối tượng và thái độ.
  • Nghiên cứu về biểu hiện của tính tích cực giảng dạy: G. Marsh (2000) đưa ra 9 biểu hiện hành vi của giảng viên tích cực. F. E. Weinert (1998) định nghĩa giáo viên giỏi và 5 mục tiêu sư phạm. M. Goocki và P. A. Ruđich (1974) gắn tính tích cực với lòng yêu nghề, yêu trẻ, tính nhẫn nại và năng lực tổ chức. Carl Rogers đề xuất 7 yêu cầu giao tiếp - ứng xử của người dạy. K. Morrison (2005) và Hamacheck xây dựng bộ tiêu chuẩn giảng viên giỏi; Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN) đưa ra các tiêu chí đánh giá năng lực thiết kế, phương pháp và tự giám sát của giảng viên.
  • Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng: N. Đobrưnin chỉ ra tính biện chứng giữa ý nghĩa xã hội khách quan và ý nghĩa cá nhân chủ quan. A. G. Covaliop (1971) phân tích nhu cầu, hứng thú, dư luận tập thể và thi đua. V. A. Iakunhin (1977) phân tích mối quan hệ giữa hệ thống động cơ và tính tích cực. N. D. Levitop (1972) chỉ ra các phẩm chất nhân cách và trạng thái tâm lý trong giờ lên lớp. F. N. Gonobolin (1979) nêu các trở lực bên trong, bên ngoài và phẩm chất ý chí. Paul Stoltz đưa ra chỉ số vượt khó AQ (Adversity Quotient).

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu về biểu hiện của tính tích cực: Phạm Minh Hạc (1966), Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành (1999) xác định tính tích cực là thuộc tính nhân cách gắn với mục đích tự giác. Lê Hương (2003) nghiên cứu tính tích cực nghề nghiệp của công chức qua mức độ đầu tư thời gian, sức lực và nỗ lực ý chí. Nguyễn Văn Lượt (2005) nghiên cứu tính tích cực xã hội của sinh viên. Nguyễn Thị Kim Hoa (2013) nghiên cứu tính tích cực chính trị. Lê Thị Minh Loan (2015), Hà Thị Minh Chính (2017), Lê Thị Minh Loan và Nguyễn Văn Lượt (2017) xác định cấu trúc tính tích cực làm việc gồm tính chủ động, sự say mê/hứng thú, sự sáng tạo và nỗ lực vượt khó.
  • Nghiên cứu về tính tích cực giảng dạy: Nguyễn Văn Hòa (2006) nghiên cứu tính tích cực xã hội của giảng viên trường sĩ quan trên 3 lĩnh vực (giáo dục - đào tạo/NCKH, chính trị - xã hội, văn hóa tinh thần). Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị (2017) phân tích tay nghề sư phạm qua biểu hiện bên trong (phẩm chất, thái độ, hứng thú) và bên ngoài (kết quả, hành động giảng dạy). Nguyễn Thị Tình (2009, 2010) cấu trúc tính tích cực giảng dạy qua nhận thức, thái độ và hành động ở các khâu chuẩn bị, lên lớp, sau lên lớp và đánh giá. Lê Minh Nguyệt và Dương Diệu Hoa (2015) xác định hệ thống 8 hành động sư phạm của người dạy. Đội ngũ tác giả tâm lý học quân sự thuộc Học viện Chính trị (2011, 2013) gồm Ngô Minh Tuấn, Nguyễn Văn Tuân, Đỗ Duy Môn, Nguyễn Đình Gấm, Tạ Quang Đàm, Bùi Tuấn Anh đưa ra 5 tiêu chí đánh giá tính tích cực giảng dạy của giảng viên trẻ.
  • Nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng: Đỗ Thị Coỏng (2004) nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng tính tích cực học tập môn tâm lý học. Lê Duy Tuấn (2008) phân chia 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng tính tích cực học tập của học viên sĩ quan. Trần Hương Thanh (2012) nghiên cứu các yếu tố tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội và yếu tố khách quan khác. Nguyễn Đình Gấm (2015) xác định 3 nhóm yếu tố tác động đến dạy học phát triển phẩm chất, năng lực trong nhà trường quân đội.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình khoa học trong và ngoài nước chủ yếu tiếp cận tính tích cực giảng dạy ở các môn học nói chung hoặc tiếp cận rời rạc từng mặt nhận thức, thái độ, hành vi. Chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống tính tích cực giảng dạy tích hợp 4 thành phần (chủ động, hăng hái, vượt khó, hiệu quả) gắn liền với 4 khâu của hoạt động dạy học các môn KHXH&NV trong môi trường đặc thù của các trường sĩ quan quân đội. Luận án giải quyết khoảng trống này cả về khung lý luận, khảo sát thực nghiệm và xây dựng hệ thống biện pháp tác động tâm lý - sư phạm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Luận án vận dụng hệ thống nguyên tắc phương pháp luận của Tâm lý học chuyên ngành:

  1. Nguyên tắc quyết định luận duy vật các hiện tượng tâm lý: Bản chất tính tích cực giảng dạy có nguồn gốc từ hiện thực khách quan, môi trường sư phạm quân sự và các yếu tố sinh vật, cơ thể của giảng viên.
  2. Nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý, ý thức và hoạt động: Tính tích cực giảng dạy được nảy sinh, hình thành, biến đổi và biểu hiện thông qua hành vi, nhận thức, thái độ trong các khâu dạy học thực tế.
  3. Nguyên tắc hệ thống: Xem xét 4 biểu hiện thành phần (chủ động, hăng hái, vượt khó, hiệu quả) trong mối quan hệ cấu trúc chỉnh thể, tác động qua lại biện chứng.
  4. Nguyên tắc phát triển: Tính tích cực giảng dạy không cố định mà biến đổi liên tục trong suốt tiến trình hoạt động nghề nghiệp.
  5. Nguyên tắc tiếp cận nhân cách: Tiếp cận giảng viên như một chủ thể nhân cách toàn diện với đầy đủ các ưu điểm và hạn chế trong điều kiện hoạt động cụ thể.

Các khái niệm nòng cốt được xác lập trong luận án:

  • Hoạt động giảng dạy của giảng viên các môn KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội: Là hoạt động tổ chức, điều khiển, hướng dẫn nhằm giúp học viên lĩnh hội kiến thức KHXH&NV quân sự, hình thành kỹ xảo, kỹ năng nghề nghiệp và phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường. Quá trình này gồm 4 khâu: (1) Chuẩn bị lên lớp; (2) Thực hiện bài giảng trên lớp; (3) Rút kinh nghiệm bài giảng; (4) Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên.
  • Tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn KHXH&NV: Là một phẩm chất nhân cách, thể hiện ở tính chủ động, tính hăng hái, tính vượt khó và tính hiệu quả trong các khâu của quá trình dạy học.
Thành phần biểu hiện Nội dung chỉ báo bản chất
Tính chủ động Làm chủ thời gian, tự giác lập kế hoạch, không đợi nhắc nhở hay bị hoàn cảnh chi phối; chủ động phán đoán tình hình và phối hợp công tác.
Tính hăng hái Nhiệt tình, không nề hà công việc; chăm chỉ, đam mê tìm tòi; cởi mở chia sẻ vướng mắc chuyên môn và sẵn sàng tiếp thu góp ý.
Tính vượt khó Ý chí khắc phục khó khăn về chuyên môn, cơ sở vật chất, gia đình; huy động cao sức lực và trí lực; kiên trì theo đuổi mục tiêu dạy học.
Tính hiệu quả Đạt mục tiêu bài giảng về tri thức và nhân cách học viên; phương pháp truyền đạt khoa học, kiểm tra đánh giá khách quan, chính xác.
  • Các yếu tố ảnh hưởng gồm 2 nhóm:
    • Nhóm yếu tố chủ quan: Nhận thức, nhu cầu, động cơ giảng dạy; phẩm chất ý chí, năng lực sư phạm, lương tâm đạo đức nghề nghiệp, kinh nghiệm và vốn sống.
    • Nhóm yếu tố khách quan: Môi trường sư phạm quân sự (tính kỷ luật, chế độ nền nếp); công tác quản lý, lãnh đạo của chỉ huy các cấp; dư luận và bầu không khí tâm lý tập thể khoa/trường; thái độ, tính tích cực học tập của học viên; điều kiện bảo đảm vật chất, tài liệu, giáo trình và chế độ chính sách đãi ngộ.

Phương pháp nghiên cứu

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các văn kiện của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các tác phẩm kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tài liệu chuyên ngành tâm lý học, kết hợp xin ý kiến chuyên gia.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Ankét): Thiết kế hệ thống câu hỏi theo thang đo Likert để thu thập dữ liệu từ giảng viên, cán bộ quản lý và học viên.
    • Phương pháp quan sát: Dự giờ các buổi giảng trên lớp, quan sát hoạt động chuẩn bị bài, rút kinh nghiệm và kiểm tra đánh giá.
    • Phương pháp tọa đàm, phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ quản lý giáo dục, chủ nhiệm khoa và giảng viên để làm rõ động cơ, tâm lý và rào cản thực tế.
    • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích hồ sơ bài giảng, giáo án, đề thi, sổ tích lũy chuyên môn và phiếu phản hồi kết quả dạy học.
    • Phương pháp phân tích chân dung tâm lý điển hình: Khắc họa 2 trường hợp giảng viên điển hình (một trường hợp tiêu biểu về tính tích cực cao và một trường hợp có mặt hạn chế) nhằm định tính hóa thực trạng.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 20.0 để tính toán các đại lượng: Điểm trung bình (ĐTB), Độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định tương quan Pearson, so sánh đối chiếu số liệu giữa các nhóm khách thể và các nhà trường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai trục nội dung: biểu hiện của tính tích cực/tính tích cực giảng dạy và các yếu tố ảnh hưởng. Tác giả phân tích các quan điểm kinh điển từ Khổng Tử, Socrate, A. Serbalop, G. I. Sukina, Romanop, S. Iukevich, G. Marsh, F. E. Weinert, P. A. Ruđich, Carl Rogers đến các nhà nghiên cứu trong nước như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Lê Hương, Nguyễn Thị Tình, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị, Lê Thị Minh Loan, Hà Thị Minh Chính, Ngô Minh Tuấn, Nguyễn Đình Gấm.

Chương này rút ra kết luận: các nghiên cứu trước đây đã tạo nền tảng quan trọng về tâm lý học hoạt động nhưng chưa tiếp cận tính tích cực giảng dạy như một cấu trúc tích hợp gồm 4 biểu hiện (chủ động, hăng hái, vượt khó, hiệu quả) và chưa có công trình nào nghiên cứu riêng biệt cho giảng viên KHXH&NV trong môi trường các trường sĩ quan quân đội. Đây là cơ sở xác lập tính độc lập và nhiệm vụ khoa học của đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận về tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội

Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ và bản chất tâm lý của đối tượng nghiên cứu. Tác giả chỉ ra 4 đặc điểm đặc thù của hoạt động giảng dạy các môn KHXH&NV ở trường sĩ quan:

  1. Nhằm hình thành, phát triển thế giới quan, niềm tin khoa học và phẩm chất nhân cách cần thiết của người sĩ quan quân đội cách mạng.
  2. Hướng tới phát triển toàn diện cả năng lực nhận thức và năng lực thực hành (đặc biệt là kỹ năng tiến hành công tác đảng, công tác chính trị).
  3. Gắn liền với thực tiễn hoạt động quân sự và cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận chống quan điểm sai trái.
  4. Diễn ra trong môi trường sư phạm quân sự có tính tổ chức, kỷ luật nghiêm ngặt và tính chất quan hệ thầy trò gắn liền với quan hệ đồng chí, đồng đội.

Cấu trúc tâm lý của tính tích cực giảng dạy được xác lập gồm 4 biểu hiện thành phần (tính chủ động, tính hăng hái, tính vượt khó, tính hiệu quả) được cụ thể hóa qua 4 khâu dạy học (chuẩn bị lên lớp; thực hiện bài giảng trên lớp; rút kinh nghiệm bài giảng; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập). Đồng thời, chương 2 xây dựng khung phân tích 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng gồm nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức, động cơ, ý chí, năng lực) và nhóm yếu tố khách quan (môi trường quân sự, quản lý, đồng nghiệp, học viên, cơ sở vật chất, chính sách).

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu thực nghiệm, thiết kế thang đo và chọn mẫu khảo sát. Mẫu khảo sát được tiến hành trên 3 nhóm khách thể (giảng viên KHXH&NV, cán bộ quản lý giáo dục, học viên đào tạo sĩ quan) tại 4 nhà trường: Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Thông tin, Trường Sĩ quan Pháo binh. Hệ thống bảng hỏi và các tiêu chí đánh giá được thiết kế tương ứng với 4 thành phần biểu hiện và các nhóm yếu tố ảnh hưởng (Bảng 3.1 đến 3.5 trong văn bản). Toàn bộ dữ liệu thu thập từ 2015 đến 2019 được quy chuẩn hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn khoa học xã hội và nhân văn ở các trường sĩ quan quân đội

Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu khảo sát thực nghiệm và phân tích thực trạng:

  • Mức độ tính tích cực giảng dạy chung: Đạt mức độ cao. Trong đó, có 3 biểu hiện thành phần đạt mức độ cao (tính chủ động, tính vượt khó, tính hiệu quả) và 1 biểu hiện thành phần đạt mức độ trung bình (tính hăng hái).
TT Biểu hiện thành phần tính tích cực giảng dạy Mức độ đánh giá thực trạng
1 Tính chủ động trong giảng dạy Mức độ cao
2 Tính hăng hái trong giảng dạy Mức độ trung bình
3 Tính vượt khó trong giảng dạy Mức độ cao
4 Tính hiệu quả trong giảng dạy Mức độ cao
- Đánh giá chung toàn bộ tính tích cực giảng dạy Mức độ cao
  • Mức độ biểu hiện qua từng khâu của quá trình dạy học:
    • Khâu chuẩn bị lên lớp: Giảng viên thể hiện tính chủ động, tính vượt khó cao trong tìm kiếm tài liệu, chuẩn bị giáo án, đổi mới phương pháp.
    • Khâu thực hiện bài giảng trên lớp: Thể hiện tính làm chủ kiến thức, khả năng bao quát lớp và xử lý tình huống sư phạm tốt; tuy nhiên tính hăng hái đối thoại, tranh luận mở còn có giới hạn.
    • Khâu rút kinh nghiệm bài giảng: Việc tự rút kinh nghiệm diễn ra nghiêm túc, song việc chủ động trao đổi, chia sẻ khó khăn với đồng nghiệp còn e dè.
    • Khâu kiểm tra, đánh giá: Thực hiện nghiêm túc, đúng quy chế đào tạo của quân đội, đảm bảo tính khách quan, công bằng.
  • Tương quan: Tồn tại mối tương quan thuận và rất mạnh giữa các biểu hiện thành phần với nhau ($p < 0.01$) và giữa từng thành phần với điểm tổng thể của tính tích cực giảng dạy (Sơ đồ 4.1).
  • Thực trạng yếu tố ảnh hưởng: Nhóm yếu tố chủ quan có mức độ tác động mạnh hơn nhóm yếu tố khách quan đến tính tích cực giảng dạy của giảng viên.
  • Phân tích chân dung tâm lý điển hình: Khắc họa chi tiết 2 trường hợp giảng viên cụ thể nhằm làm sáng tỏ cơ chế tâm lý thúc đẩy hoặc kìm hãm tính tích cực giảng dạy trong điều kiện thực tế.
  • Hệ thống 4 nhóm biện pháp tâm lý - sư phạm được đề xuất:
    1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bồi dưỡng động cơ, hứng thú giảng dạy đúng đắn cho giảng viên.
    2. Bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm, tính chủ động, hăng hái, ý chí vượt khó cho giảng viên KHXH&NV.
    3. Xây dựng môi trường sư phạm quân sự dân chủ, đoàn kết, kỷ luật và hoàn thiện các chế độ chính sách, điều kiện bảo đảm dạy học.
    4. Đổi mới công tác quản lý, đánh giá, sử dụng và thi đua khen thưởng đối với đội ngũ giảng viên.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận

  • Hệ thống hóa và làm phong phú thêm lý luận về tính tích cực, tính tích cực giảng dạy trong tâm lý học chuyên ngành và tâm lý học sư phạm quân sự.
  • Xây dựng và xác lập khái niệm, đặc điểm hoạt động giảng dạy các môn KHXH&NV ở trường sĩ quan quân đội.
  • Xác định cấu trúc tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn KHXH&NV bao gồm 4 thành phần biểu hiện đặc trưng (tính chủ động, tính hăng hái, tính vượt khó, tính hiệu quả) gắn liền với 4 khâu của quá trình dạy học, cùng hệ thống các yếu tố ảnh hưởng (chủ quan, khách quan).

Đóng góp về thực tiễn

  • Đánh giá khách quan thực trạng mức độ tính tích cực giảng dạy của giảng viên KHXH&NV tại 4 trường sĩ quan quân đội (SQCT, SQLQ1, SQTT, SQPB), chỉ rõ thực trạng đạt mức độ cao ở 3 thành phần (chủ động, vượt khó, hiệu quả) và mức độ trung bình ở 1 thành phần (hăng hái).
  • Chứng minh bằng định lượng mối quan hệ tương quan thuận rất mạnh giữa các biểu hiện thành phần với tính tích cực giảng dạy; khẳng định vai trò chi phối chủ đạo của nhóm yếu tố chủ quan so với nhóm yếu tố khách quan.
  • Xây dựng và phân tích thành công 2 chân dung tâm lý điển hình, phản ánh sinh động thực tiễn công tác giảng dạy KHXH&NV trong quân đội.
  • Đề xuất hệ thống các biện pháp tâm lý - sư phạm đồng bộ, có tính khả thi nhằm phát triển tính tích cực giảng dạy của đội ngũ giảng viên các môn KHXH&NV trong nhà trường quân đội hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát thực nghiệm ở đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn KHXH&NV tại 4 trường sĩ quan quân đội (SQCT, SQLQ1, SQTT, SQPB) với dữ liệu thu thập trong giai đoạn 2015 - 2019; chưa bao quát toàn bộ các học viện, trường đại học khác trong toàn quân hoặc các khối ngành chuyên môn quân sự khác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi nghiên cứu thực nghiệm tính tích cực giảng dạy sang các khối giảng viên giảng dạy khoa học tự nhiên, kỹ thuật quân sự, quân sự chung; tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm tác động (can thiệp sư phạm) để kiểm chứng hiệu quả lâu dài của các biện pháp tâm lý - sư phạm đã đề xuất.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cán bộ quản lý giáo dục và chỉ huy các trường sĩ quan: Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá đúng thực trạng đội ngũ giảng viên, xây dựng quy hoạch bồi dưỡng, cải tiến chính sách quản lý, hoàn thiện môi trường sư phạm quân sự và tổ chức thi đua dạy tốt.
  • Đối với giảng viên các môn KHXH&NV: Là tài liệu giúp giảng viên tự soi chiếu, nhận thức rõ các thành phần biểu hiện (đặc biệt là khắc phục hạn chế về tính hăng hái), nâng cao năng lực tự học, tự rèn luyện và ý chí vượt khó trong hoạt động sư phạm.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Tâm lý học và Giáo dục học: Cung cấp khung lý thuyết, hệ thống tiêu chí, công cụ bảng hỏi đo lường tính tích cực nghề nghiệp và phương pháp xử lý dữ liệu thống kê bằng SPSS 20.0 trong tâm lý học quân sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn KHXH&NV được luận án xác định như thế nào?

Tính tích cực giảng dạy của giảng viên các môn KHXH&NV ở các trường sĩ quan quân đội là một phẩm chất nhân cách, thể hiện ở tính chủ động, tính hăng hái, tính vượt khó và tính hiệu quả ở các khâu của quá trình dạy học (chuẩn bị lên lớp; thực hiện bài giảng trên lớp; rút kinh nghiệm bài giảng; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên).

2. Mức độ biểu hiện thực trạng tính tích cực giảng dạy của giảng viên đạt kết quả ra sao?

Kết quả khảo sát thực tế tại 4 trường sĩ quan quân đội cho thấy tính tích cực giảng dạy của giảng viên đạt mức độ cao nói chung. Khi xét từng biểu hiện thành phần, có 3 biểu hiện đạt mức độ cao (tính chủ động, tính vượt khó, tính hiệu quả) và 1 biểu hiện đạt mức độ trung bình (tính hăng hái).

3. Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh hơn đến tính tích cực giảng dạy của giảng viên?

Luận án chỉ ra rằng tính tích cực giảng dạy chịu sự chi phối của cả nhóm yếu tố chủ quan và nhóm yếu tố khách quan, trong đó nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức, nhu cầu, động cơ, phẩm chất ý chí, năng lực sư phạm của bản thân người giảng viên) có mức độ ảnh hưởng mạnh hơn so với nhóm yếu tố khách quan.

4. Mẫu khảo sát thực tiễn của luận án được thực hiện tại những cơ sở đào tạo nào?

Nghiên cứu thực tiễn được tiến hành trên các khách thể là giảng viên KHXH&NV, cán bộ quản lý và học viên tại 4 trường sĩ quan quân đội, bao gồm: Trường Sĩ quan Chính trị (SQCT), Trường Sĩ quan Lục quân 1 (SQLQ1), Trường Sĩ quan Thông tin (SQTT) và Trường Sĩ quan Pháo binh (SQPB) trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019.

5. Luận án sử dụng những công cụ và phương pháp nào để thu thập và xử lý số liệu?

Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm: điều tra bằng bảng hỏi (Ankét), quan sát sư phạm, phỏng vấn/tọa đàm sâu, nghiên cứu sản phẩm hoạt động, phân tích chân dung tâm lý điển hình và sử dụng phần mềm thống kê toán học SPSS 20.0 để xử lý các chỉ số ĐTB, ĐLC và hệ số tương quan.


Kết luận

Luận án tiến sĩ Tâm lý học của tác giả Vũ Thế Bình đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về tính tích cực giảng dạy của đội ngũ giảng viên các môn KHXH&NV tại các trường sĩ quan quân đội. Công trình đã xác lập cấu trúc 4 thành phần biểu hiện (chủ động, hăng hái, vượt khó, hiệu quả) gắn liền với 4 khâu của quy trình dạy học và chứng minh thực trạng tính tích cực giảng dạy đạt mức độ cao, trong đó tính hăng hái là khâu còn hạn chế nhất. Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò quyết định của nhóm yếu tố chủ quan và đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - sư phạm đồng bộ, góp phần trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và xây dựng nhân cách người sĩ quan quân đội cách mạng.