Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE GIÁO DỤC GIA TRI ĐẠO DUC TRUYEN THONG CHO HỌC VIÊN O TRUONG SĨ QUAN CHÍNH TRI 1. Giá trị dao đức truyền thống dân tộc Việt Nam 1. Quan niệm về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam Quan niệm giá trị đã xuất hiện ngay từ thời ky cô đại, được sử dụng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó, nó cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Gia tri: cái làm cho một vật có ích lợi, có ý nghĩa, là đáng quý về mặt nào đó” [49, tr. Theo tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, nói đến giá trị “tức là muốn khăng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là bao hàm quan điểm coi gia tri gan liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp, là nói đến khả năng thôi thúc con người ta hành động và nỗ lực vươn tới” [3, tr. Từ cách tiếp cận này có thể xem giá trị là sản phẩm của quá trình nhận thức, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể (cá nhân, nhóm xã hội) với khách thê (đối tượng nhận thức) nảo đó trên những khía cạnh: tốt hoặc xấu, cao cả hay thấp hèn, đáng trọng hay đáng khinh. trong đó, chỉ những cái tốt, cái cao cả, cái đáng trọng.
mới được xem là giá tri. Theo đó, tác giả quan niệm: Giá tri là tính có ích lợi cua các su vật, hiện tượng trong tự nhiên hay xã hội thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của con người và có tác động tích cực đối với đời sống xã hỘi. Các hình thức biểu hiện của giá trị rất đa dạng, phong phú, tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà có nhiều cách phân loại giá trị khác nhau, nhưng có thể quy về hai dạng cơ bản: giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Giá trị vật chất là những giá trị được định hình từ sản phẩm của lao động phục vụ cho nhu cầu vật chất của xã hội như là điều kiện cơ bản cho toàn bộ đời sống xã hội loài người.
Giá trị tinh thần bao gồm giá trị khoa học, giá trị đạo đức, giá trị nghệ thuật, giá trị văn hóa, giá trị chính trị. Trong hệ thống các giá tri 10 tinh thần của xã hội, giá trị đạo đức có vai trò rất quan trọng, điều này do vai trò của đạo đức quy định. Tw tưởng về đạo đức xuất hiện cách ngày nay khoảng 2600 năm ở các trung tâm triết học lớn: Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp cô đại. Quan niệm về đạo đức của người Trung Quốc cô đại bắt nguồn từ nghĩa ghép của hai từ “Đạo” và “Đức”.
“Đạo” là phạm trù quan trọng trong triết học cổ đại Trung Quốc. “Đạo” với nghĩa ban đầu là “đường” - đường di. Sau đó, đạo được hiểu là quy luật của tự nhiên, là đường sống của con người. “Đức” là phạm trù dùng để chỉ lòng nhân đức, những đức tính cần thiết, cần có của con người; là hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực, những yêu cầu mà cuộc sống đặt ra và đòi hỏi mỗi người cần phải thực hiện trong quan hệ ứng xử, giao tiếp hàng ngày.
Đức được hiểu là biểu hiện của đạo. Ở phương Tây, quan niệm về đạo đức cũng được hình thành từ thời cô đại và trở thành hệ thống lý luận gan liền với tên tuôi của nhà triết học Hy Lạp - Arixtôt (384 - 322 trước Công nguyên). Thuật ngữ “đạo đức” bắt nguồn từ tiếng La tinh là Mos - lề thói và Moralis có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa; hoặc từ tiếng Hy lạp là Ethicos vừa có nghĩa đạo đức, vừa có nghĩa “Luân lí” đều được hiểu là những lề thói, tập tục của xã hội, biểu hiện mối quan hệ giữa người với người trong giao tiếp, ứng xử với nhau hàng ngày. Như vậy, cả phương Đông và phương Tây cô đại đều quan niệm đạo đức là những lề thói, tập tục, đạo lí, nguyên tắc, chuẩn mực được xã hội thừa nhận trong quan hệ ứng xử, giao tiếp giữa người với người.
Ở Việt Nam có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức. Theo Từ điển Tiếng Việt, đạo đức là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội” [49, tr. Theo giáo trình Đạo đức học đại cương: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm hệ thống các quan điểm, quan niệm, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, dé điều chỉnh hành vi và cách ứng xử của con người, được thực hiện bởi niêm tin, trách nhiệm, lương tâm của mỗi cá nhân, bởi 11 phong tục tập quán và dư luận xã hội nhằm tạo nên sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của cộng đồng và xã hội, đảm bảo hạnh phúc cho con người và tiễn bộ xã hội; là một lĩnh vực hoạt động của đời sống tinh thần xã hội” [7, tr. Cho đến nay, tiếp cận dưới góc độ triết học, quan niệm phổ biến và hợp lý về đạo đức được xác định: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gốm hệ thong các quan điển, nguyên tắc, quy tac, chuẩn mực xã hội dùng để đánh giá, điều chỉnh cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ xã hội, được thực hiện bởi niém tin cá nhân, truyền thống và sức mạnh của du luận xã hội.
Từ cách tiếp cận về giá trị và đạo đức như trên, bước đầu có thé hiểu: Giá trị đạo đức là những chuẩn mực, qui tắc ứng xử được lựa chọn nhằm điều chỉnh, chuẩn hóa hành vi con người, được du luận xã hội ung hộ và có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội. Giá trị đạo đức gan với nhu cầu điều chỉnh mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và xã hội, hướng đến sự hài hòa giữa chúng. Giá trị đạo đức không phải là nhất thành bất biến, mà nó luôn vận động và biến đổi cùng với nhận thức, nhu cầu và lợi ích của con người trong những hoàn cảnh kinh tế - xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định. Các giá trị đạo đức của một dân tộc, một xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử vừa phản ánh điều kiện lịch sử của giai đoạn đó, vừa kế thừa những giá tri đạo đức của giai đoạn lịch sử trước.
Trong xã hội có giai cấp, các giá trị đạo đức phản ánh sâu sắc lợi ích giai cấp và bị chi phối trực tiếp bởi hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội. Xét theo chiều thời gian, các giá trị đạo đức có thé phân thành giá trị đạo đức hiện đại và giá trị đạo đức truyền thống. Các giá trị đạo đức truyền thống được hình thành trong quá trình phát triển của mỗi dân tộc và mang những đặc điểm riêng của dân tộc đó. Bởi lẽ, mỗi dân tộc có truyền thống riêng của mình do lịch sử dé lại - đó là những gì đã trở nên ồn định, ăn sâu vào tâm lý, tập quán xã hội, được cộng đồng thừa nhận, được lưu truyền từ 12 thế hệ này sang thế hệ khác.
Các dân tộc khác nhau có truyền thống khác nhau, thậm chí cùng một dân tộc, qua những giai đoạn lịch sử khác nhau thì truyền thống cũng có biểu hiện và cách lý giải khác nhau. Giá tri đạo đức truyền thống chiếm vị trí nối bật trong hệ giá tri tinh thần của dân tộc ta, gan với những điều kiện đặc thù của tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa, con người Việt Nam, đó là những phẩm chất tốt đẹp đã được hình thành và bảo lưu trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Các giá trị đó được định hình, củng cố, chọn lọc, kế thừa và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo thành sức mạnh của tập quán điều chỉnh mọi hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội. Song sự ồn định của giá trị đạo đức truyền thống chỉ mang tính tương đối, chúng luôn có sự vận động, biến đổi và phát triển cho phù hợp với thực tiễn sinh động của đời sống xã hội.
Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là cái thể hiện cô đọng nhất, đầy đủ nhất về bản chất văn hóa dân tộc, đó cũng là cội nguồn của sức mạnh nội sinh dé dân tộc đó tồn tại và phát triển. Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết: “Giá trị đạo đức truyền thống là những gì sừng sững, vững chắc, cao vời vợi, tôn nghiêm như những ngọn núi, đời qua đời làm tiêu điểm dé các lớp đồng bào theo đó mà không di lạc, phân biệt chánh tà, phải trái, nên chăng, tốt xấu, dé mọi người xác định thái độ, hành tung của mình” [16, tr. Từ những luận giải trên, có thé quan niệm: Giá tri dao đức truyền thong dân tộc Việt Nam là những chuẩn mực, những quy tắc ứng xử pho biến, ổn định, được hình thành trong suốt quá trình ton tại và phát triển của dân tộc, là động lực tỉnh thân tạo nên sức sống bên trong cua dan tộc, được các thé hệ sau kế thừa, giữ gìn, lưu truyền và phát triển lên một trình độ mới. Hệ thong các giá trị dao đức truyền thống dân tộc Việt Nam Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu giá trị đạo đức truyên thông dân tộc Việt Nam với nhiêu góc tiêp cận và nhiêu quan diém 13 khác nhau.
Tác giả Vũ Khiêu cho rằng, truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam bao gồm: lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù và sáng tạo, tỉnh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người, trong đó lòng yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc [24. Tác giả Tran Văn Giàu trong cuốn sách “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” cho rang các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc được sắp xếp theo thứ tự: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa [16, tr. Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát trién bền vững đất nước” đã khang định: “Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sông tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo” [12, tr.