CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN 1.1 Năng suất lao động Theo C. Mác “Năng suất lao động là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích. Nó nói lên kết quả hoạt động sản xuất có mục đích của con người trong một đơn vị thời gian nhất định. Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đó”[1].
Theo quan niệm truyền thống “Năng suất lao động phản ánh tính hiệu quả của việc sử dụng lao động. Thực chất nó đo giá trị đầu ra do một lao động tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định hoặc là số thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đầu ra”[1]. Năng suất lao động (NSLĐ) là chìa khóa để nói lên sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. NSLĐ trong kinh doanh còn là thuật ngữ để đánh giá hoặc phân tích tính hiệu quả sản xuất của công ty hoặc DN.
NSLĐ phản ánh được giá trị chất lượng, tính hiệu quả của GDP và tính “ lợi nhuận. Những điều nay được xem là những chỉ tiêu để đánh giá nền kinh tế xã hội một cách hiệu quả. Một cách tiếp cận mới về NSLĐ đó chính là tăng số lượng và đồng thời là tăng chất lượng. Việc này nghĩa là sử dụng cùng một lượng nguyên liệu, lao động, vốn, … để sản xuất ra một khối sản lượng lớn hơn có cùng chất lượng hoặc ” có chất lượng cao hơn.
Bảng phương pháp dùng để tính NSLĐ Phương NSLĐ tính bằng NSLĐ tính bằng giá NSLĐ tính bằng thời pháp hiện vật trị gian lao động Công W=Q/T W=Q/T L=T/Q thức Trong đó: Trong đó: Trong đó: tính W là mức NSLĐ W là mức NSLĐ của L là lượng lao động hao “ “ “ của một lao động một lao động ( tính phí cho một sản phẩm Q là tổng sản lượng bằng tiền ) T là thời gian lao động tính bằng hiện vật Q là tổng sản lượng ( hao phí T là tổng số lao tính bằng tiền ) ” Q là tổng sản lượng ” động T là tổng số lao động ” (Nguồn: Trích từ Hệ thống thông tin thống kê) Có 03 phương pháp dùng để đo lường NSLĐ, tuy nhiên từng phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm, cần căn cứ theo dữ liệu có được để chọn ra cách tính phù hợp cho từng doanh nghiệp.2 Nâng cao năng suất lao động Theo C. Mác “Tăng năng suất lao động là sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất lao động, có thể hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động, thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, sao cho số lượng lao động ít hơn mà lại có được sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn”[1]. Tăng NSLĐ có nghĩa là giảm chi phí lao động cho một đơn vị sản phẩm. “ Trong thời gian như nhau, nếu NSLĐ càng cao thì số lượng giá trị sử dụng sản xuất ra càng nhiều nhưng giá trị sáng tạo ra không vì thế mà tăng lên.
Khi NSLĐ tăng thì thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm càng ít, dẫn đến giá trị của đơn vị hàng hóa đó giảm, giá thành của sản phẩm đó giảm, nhưng không làm giảm giá trị sử dụng của sản phẩm đó. Mác viết “Nói chung, sức sản xuất của lao động càng lớn thì thời gian lao động tất yếu để sản xuất ra một vật phẩm sẽ càng ngắn và khối 4 lượng lao động kết tinh trong sản phẩm đó càng nhỏ, thì giá trị của vật phẩm đó càng ít. Ngược lại, sức sản xuất của lao động càng ít thì thời gian lao động tất yếu để sản xuất ra một sản phẩm sẽ càng dài và giá trị của nó cũng càng lớn”[1]. Như vậy là số lượng của đơn vị hàng hóa thay đổi tỷ lệ thuận với số lượng của lao động thể hiện trong hàng hóa đó, và thay đổi tỷ lệ nghịch với sức sản xuất của lao động đó.
” Nâng cao năng suất lao động còn phụ thuộc vào 3 yếu tố: - Đầu tư vào vốn vật chất. - Công nghệ mới, tiên tiến. - Vốn con người phát triển.2 Các chỉ tiêu năng suất lao động 1.1 Khái niệm “Chỉ tiêu năng suất ( tiếng Anh là Productivity Target) là điều kiện về giá trị được xác định để xem xét đối với năng suất thực tế. Gồm một hệ thống các tỉ số cần thiết lập để đánh giá năng suất của các tổ chức hay doanh nghiệp.
Thông qua việc xác định các yếu tố tác động đến kết quả phản ánh năng suất. Với nhu cầu và đòi hỏi đặt ra, doanh nghiệp cần xác định các giới hạn tỉ số cần đạt để điều chỉnh sản xuất, kinh doanh. Từ đó thúc đẩy năng suất của doanh nghiệp”[2]. Thực tế thì các chỉ tiêu này rất đa dạng, chúng liên kết trực tiếp đối với quá trình sản xuất của các doanh nghiệp.
Chung quy thì các chỉ tiêu này phục vụ cho việc đánh giá và phân tích hoạt động sản xuất của doanh nghiệp để đánh giá xem thưc tế thì doanh nghiệp đáp ứng được bao nhiêu trên tổng số chỉ tiêu được đề ra. Từ đó cải thiện và điều chỉnh để đạt được NSLĐ mong muốn.2 Các chỉ tiêu NSLĐ Năng suất lao động tính bằng hiện vật Ưu điểm Nhược điểm - Biểu hiện mức NSLĐ một cách cụ thể, - Chỉ tính cho thành phẩm mà không “ “ chính xác, không chịu ảnh hưởng của sự tính cho các sản phẩm dở dang biến động về giá cả - Chỉ tính được cho một loại sản phẩm - Có thể so sánh mức NSLĐ giữa doanh nhất định nghiệp hoặc các nước khác nhau theo - Rất khó thực hiện cho sản phẩm dịch ” một loại sản phẩm vụ - Đánh giá trực tiếp hiệu quả của lao ” động (Nguồn: Trích từ Hệ thống thông tin thống kê) Năng suất lao động tính bằng giá trị Ưu điểm Nhược điểm - Phản ảnh tổng hợp hiệu quả của lao - Bị ảnh hưởng bởi yếu tố giá cả “ “ động, có thể tính cho các loại sản phẩm - Không khuyến khích tiết kiệm vật tư và khác nhau, khắc phục được nhược điểm dùng vật tư rẻ, doanh nghiệp nào dùng của phương pháp tính bằng hiện vật nhiều vật tư hoặc vật tư đắt tiền sẽ đạt - Tổng hợp chung được các kết quả mà mức NSLĐ cao doanh nghiệp đã tạo ra trong kỳ như - Nếu lượng sản phẩm hợp tác với bên thành phẩm, bán thành phẩm, các công ngoài nhiều, cơ cấu sản phẩm thay đổi sẽ việc và dịch vụ,… ” làm thay đổi mức NSLĐ của doanh ” nghiệp (Nguồn: Trích từ Hệ thống thông tin thống kê) 6 Năng suất lao động tính bằng thời gian lao động Ưu điểm Nhược điểm - Phản ánh cụ thể hết mức tiết kiệm về - Việc tính toán phức tạp mà không dừng “ “ thời gian lao động để sản xuất ra một đuộc để tính tổng hợp NSLĐ bình quân ” sản phẩm của một ngành hay một doanh nghiệp có nhiều loại sản phẩm khác nhau ” (Nguồn: Trích từ Hệ thống thông tin thống kê) 1.3 Ý nghĩa của việc nâng cao năng suất lao động Về việc tăng năng suất lao động có ý nghĩa cực kỳ to lớn và vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của một doanh nghiệp. Nó chính là “động cơ thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia”. Để một doanh nghiệp thực sự có thể phát triển tốt, có sức cạnh tranh với những doanh nghiệp khác trên thị trường thì việc tăng NSLĐ là việc hết sức quan trọng.
Nó ảnh hưởng rất lớn đến tất cả mọi người và đặc biệt là doanh nghiệp. Nâng cao năng suất lao động làm tăng khả năng cạnh tranh của tổ chức/doanh “ nghiệp. Là yếu tố quan trọng quyết định chỗ đứng của DN trên thị trường hiện nay. Việc nâng cao năng suất lao động là mục tiêu hàng đầu tất yếu của DN, cải thiện được năng suất lao động, DN sẽ cắt giảm được rất nhiều chi phí như lương, chi phí sản xuất, nhân lực,… Song song với đó giá thành của sản phẩm cũng sẻ giảm nhưng đồng thời chất lượng lại được cải tiến hơn sẽ làm tăng lợi nhuận, thị phần cho DN.
” Nâng cao NSLĐ cũng góp phần tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh sản xuất của tổ chức/doanh nghiệp. Vì khi tăng NSLĐ lên đồng nghĩa với việc sẽ giảm được chi phí sản xuất sản phẩm. Mà như vậy thì chúng ta cũng không cần quá nhiều nhân lực, sẽ cắt giảm được chi phí tiền lương, tiết kiệm được thêm ngân quỹ cho doanh nghiệp. 7 “Năng suất lao động và tăng việc làm là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế”[3].
Bởi vì khi mà NSLĐ tăng thì sản lượng sản xuất cũng tăng lên và tức là tổng giá trị sản lượng cũng sẽ tăng lên. Do đó sẽ tạo được điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng đầu tư và sản xuất giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng tăng lợi nhuận và phát triển.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất lao động Tăng NSLĐ là điều hết sức quan trọng và có ý nghĩa rất lớn đối với bất kỳ một doanh nghiệp. Nó không chỉ phản ánh được việc sử dụng lao động một cách hiệu quả mà còn nói lên được tình hình phát triển kinh tế của DN. Năng suất của một người lao động ảnh hưởng trực tiếp đến NSLĐ xã hội, cho nên khi chúng ta muốn thúc đẩy hay có những biện pháp để tăng NSLĐ thì buộc DN phải tìm hiểu về những nhân tố có thể hoặc ảnh hưởng đến nguồn năng suất lao động.1 Những nhân tố liên quan đến người lao động Trước tiên là DN phải phân công người lao động vào đúng vị trí, sở trường của họ, những công việc phù hợp với năng lực của người lao động, trình độ chuyên môn thì khi đó họ mới phát huy được sở trường của mình.
Nếu người lao động có trình độ và học vấn cao sẽ tạo ra những tư duy và sáng tạo cao, có thể dễ dàng tiếp thu được những tiến bộ của khoa học - kỹ thuật vào sản xuất. Từ đó mới có thể đảm bảo công tác một cách hiệu quả, thúc đẩy được năng suất lao động. Còn về phía người lao động, bất cứ ngành nghề nào cũng vậy, đều cần “ có trình độ chuyên môn cao, cần có sự tự giác trong trách nhiệm và ý thức, tinh thần làm việc và đạo đức trong nghề nghiệp.