CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH CẤP NƯỚC 1.1 Dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước 1.1 Tổng quan Dự án Dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch cũng là dự án đầu tư xây dựng công trình. Do vậy quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước cũng được xem như khái niệm về dự án đầu tư xây dựng công trình. Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi nguồn vốn được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Có nhiều cách khái niệm khác nhau về dự án đầu tư theo tài liệu và các tác giả như sau: Theo từ điển tiếng Việt, từ “dự án” có nghĩa là “bản thảo hoặc kế hoạch về một vấn đề sẽ đưa ra thực thi” [1].
Dự án được định nghĩa theo PGS.TS Trịnh Quốc Thắng như sau: “Dự án là sự chi phí tiền và thời gian để thực hiện một kế hoạch nhằm mục đích cho ra một sản phẩm duy nhất” [2]. Trong Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khái quát về dự án đầu tư: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” [3]. Cũng theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 dự án đầu tư xây dựng được hiểu như sau: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư 3 xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng” [4].
Một cách chung nhất có thể hiểu dự án đầu tư xây dựng công trình là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ xác định.2 Vai trò của công trình cấp nước đối với đời sống xã hội và phát triển kinh tế 1.1 Đối với đời sống xã hội Chất lượng cuộc sống: Việc cấp nước sạch an toàn và hệ thống vệ sinh an toàn, đầy đủ là những nhu cầu tối thiểu cơ bản cho sự tồn tại của con người. Các điều kiện cấp nước và vệ sinh hiện tại trong các xã vùng dự án làm thay đổi đáng kể chất lượng cuộc sống của nhân dân trong vùng thực hiện dự án. Những thay đổi dự kiến được thực hiện bởi dự án sẽ làm tăng đáng kể chất lượng cuộc sống so với hiện tại, thông qua việc cung cấp nước sạch an toàn và trực tiếp tới các hộ gia đình. Giảm nghèo khổ: Dự án mục đích không phải là một dự án sinh lời, và như vậy các lợi ích của nó rất khó được lượng định.
Tuy vậy vẫn có tồn tại nhiều lợi ích. Dự kiến rằng một hệ thống cấp nước an toàn và đảm bảo chất lượng sẽ làm giảm các bệnh nhiễm khuẩn về nước. Điều này đồng nghĩa với tăng thu nhập vì không phải chi phí chữa bệnh. Hơn nữa dự án sẽ đem lại khả năng tiết kiệm các khoản chi phí mua nước, chi phí lấy nước, chi phí xử lý nước từ các giếng khơi mạch nông.
Thêm vào đó điều này sẽ làm giảm chi phí phòng bệnh, khám chữa bệnh của xã hội trong công tác y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh cho nhân dân. Một hệ thống cấp nước an toàn tin cậy, cùng với việc phát triển các cơ sở hạ tầng khác như hệ thống cung cấp điện, hệ thống thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông, hệ thống giao thông, hệ thống thoát nước chắc chắn sẽ thúc đẩy các hoạt động thương mại dịch vụ, du lịch, sản xuất công nghiệp và các hoạt động đầu tư khác cho vùng dự án nói riêng cũng như cho toàn bộ khu vực nói chung. Đây là tác nhân quan trọng tác động trực tiếp đến việc giảm nghèo khổ. 4 Giảm khó khăn cho phụ nữ: Phụ nữ luôn luôn là người sử dụng nước sạch nhiều nhất trong gia đình, nước không sạch ảnh hưởng trực tiếp ngay đến phụ nữ, bất cứ một cải thiện nào về môi trường cung cấp nước sạch, đều làm tăng thêm khả năng sản xuất, khả năng nuôi dạy con cái, khả năng tham gia cộng đồng của phụ nữ, vì phụ nữ luôn luôn là người đầu tiên phải gánh chịu việc thiếu hụt nước sạch, họ thường xuyên tiêu phí thời gian và sức lực cho việc lấy nước, vận chuyển nước, dự trữ nước phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt.
Nếu có 1 hệ thống cấp nước an toàn tin cậy thì đương nhiên mọi khó khăn chồng chất lên người phụ nữ sẽ được giảm thiểu, người phụ nữ sẽ dễ dàng vươn lên trong xã hội, sẽ có nhiều cơ hội để đổi mới nhà cửa, làm kinh tế và tham gia các hoạt động cộng đồng.2 Đối với phát triển kinh tế Tiết kiệm nguồn chi tiêu: Nếu không có hệ thống cung cấp nước sạch, một điều đương nhiên, nhân dân trong khu vực dự án cần phải bỏ ra các chi phí xây dựng bể chứa, chi phí xây dựng trạm xử lý cục bộ, chi phí mua nước, chi phí lấy nước để có nguồn cung cấp nước sạch, khi có hệ thống cung cấp nước sạch, thì các chi phí trên sẽ không còn. Theo kinh nghiệm của các nhà quản lý thì chi phí tiết kiếm nước tính bằng 1,5 lần chi phí mua nước sau khi có hệ thống cung cấp nước sạch. Tăng giá trị đất đai, nhà cửa: Khi có hệ thống cung cấp nước sạch, giá trị đất đai nhà cửa cũng chắc chắn sẽ được tăng theo, ngoài ra các công trình vệ sinh chắc chắn được cải thiện, mức độ phát triển dân trí sẽ cao hơn, khi giá nhà đất đã tăng cao, chính là lúc người dân đã biết giá trị của đất, điều này tác động ngược lại với người dân, để sử dụng đất có hiệu quả hơn, những hiện tượng như bỏ đất hoang hóa sẽ không còn nữa, môi trường sống của cả xã hội được cải thiện.3 Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước Mục đích của việc phân loại và phân nhóm dự án đầu tư xây dựng công trình là để phân cấp quản lý và xây dựng cơ chế chính sách quản lý phù hợp. Các dự án đầu tư xây dựng được phân loại như sau: 5 • Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình xây dựng và nguồn vốn sử dụng.
• Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình xây dựng của dự án gồm dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công. • Dự án đầu tư xây dựng gồm một hoặc nhiều công trình với loại, cấp công trình xây dựng khác nhau.1 Phân loại theo quy mô và tính chất, loại công trình xây dựng Phân loại theo quy mô và tính chất, loại công trình xây dựng được liệt kê theo nhóm tại bảng phụ lục 1 về phân loại dự án đầu tư xây dựng được ban hành kèm theo Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ, các dự án đầu tư xây dựng được phân loại như sau [5]: • Dự án quan trọng quốc gia • Dự án nhóm A • Dự án nhóm B • Dự án nhóm C 1.2 Phân loại theo nguồn vốn sử dụng Dự án đầu tư được phân loại theo nguồn vốn sử dụng gồm [5]: • Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước. • Dự án sử dụng vốn Nhà nước ngoài ngân sách. • Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn.4 Đặc điểm của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước cũng mang đầy đủ các đặc điểm của một dự án đầu tư xây dựng công trình Quản lý dự án đầu tư xây dựng có một số đặc điểm chính như sau: 6 Thứ nhất, đầu tư xây dựng công trình cấp nước phải xác định nhu cầu; lựa chọn nguồn; xác định vị trí, quy mô các công trình cấp nước (bao gồm mạng lưới tuyến truyền tải và phân phối, nhà máy, trạm làm sạch).
Thứ hai, mạng lưới cấp nước được tổ chức và triển khai thi công xây dựng theo hướng tuyến trong một hoặc nhiều khu địa giới hành chính. Hệ thống các công trình cấp nước mang tính kỹ thuật cao, nó không chỉ đáp ứng nhu cầu cuộc sống, sản xuất, dịch vụ, đời sống con người. trong hiện tại và tương lai. Mặt khác thời gian tồn tại của các công trình cấp nước trên lãnh thổ là lâu dài.
Do vậy yêu cầu khi xây dựng công trình cấp nước bên cạnh áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phải căn cứ vào quy hoạch phát triển vùng và dự kiến những rủi ro trong tương lai. Thứ ba, các công trình cấp nước mang tính xã hội cao, có nhiều đặc tính của hàng hoá công cộng. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng kỹ thuật cấp nước thì không chỉ có sự hỗ trợ của Chính phủ mà còn có sự đóng góp của khu vực tư nhân, đầu tư thì các công trình này thường có vốn đầu tư hơn. Thứ tư, khi lắp đặt đường ống dưới nước vượt qua sông, suối, đầm, hồ người thiết kế phải tính toán kinh tế, kỹ thuật để chọn một trong hai giải pháp cho ống đi nổi trên cầu hay đặt ống chìm dưới đáy sông, hồ… Thứ năm, quản lý chặt chẽ việc nghiệm thu thiết bị chạy thử đơn động không tải công trình, nghiệm thu thiết bị chạy thử liên động không tải công trình và nghiệm thu thiết bị chạy thử liên động có tải công trình.
Thứ sáu, phải phối hợp triển khai thi công ăn khớp với xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trên cùng tuyến.