CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG Lực CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 KHÁI NIỆM VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG Lực CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm cạnh tranh Trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp - các hoạt động sản xuất kinh doanh đều đuợc chỉ đạo từ trung uơng, từ trên xuống duới. Quan hệ cung cầu cũng nhu tất cả các quy luật của kinh tế thị trường không được tồn tại theo đúng nghĩa của nó. Quan hệ giữa các đơn vị kinh tế hầu như không có mâu thuẫn về lợi ích. Chính vì vậy mà cạnh tranh không có chỗ đứng trong nền kinh tế.
Thời điểm đánh dấu công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta bắt đầu từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986). Từ đây cơ chế quản lý kinh tế có bước đổi mới cơ bản, nền kinh tế đã chuyển sang nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện. Đặc biệt từ khi nước ta tham gia hội nhập nền kinh tế thế giới thì cạnh tranh được nhìn nhận theo hướng tích cực hơn. Môi trường cạnh tranh được mở rộng trên cả thị trường nội địa và thị trường quốc tế.
Trong kinh tế chính trị học, cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Theo Các Mác, cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch. 5 Nghiên cứu sâu về nền sản xuất hàng hoá và cạnh tranh tu bản chủ nghĩa, Các Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. Theo từ điển kinh doanh (1992) ở Anh, cạnh tranh trong cơ chế thị truờng đuợc định nghĩa là sự ganh đua kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình.
Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ, cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều huớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Ngày nay trong nền kinh tế thị truờng, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kích thích kinh doanh, là môi truờng động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động tạo sự phát triển của xã hội nói chung.
Nhu vậy cạnh tranh là quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá, là nội dung cơ chế vận động của thị truờng. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số luợng nhà cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt, kết quả cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Nhu vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trong việc giành giật thị truờng và khách hàng.2 Các loại hình cạnh tranh Thực tế, có nhiều tiêu thức đuợc sử dụng làm căn cứ để phân loại cạnh tranh. Căn cứ phổ biến thuờng dựa vào chủ thể tham gia thị truờng, mức độ, tính chất cạnh tranh trên thị truờng và phạm vi ngành kinh tế.
Căn cứ vào các chủ thể tham gia trên thị trường thì cạnh tranh được 6 chia làm ba loại: - Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Đây là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật “mua rẻ, bán đắt”. Người mua muốn mình mua được sản phẩm với giá thấp nhất còn người bán muốn bán được sản phẩm với giá cao nhất, qua quá trình mặc cả để xác định giá của hàng hóa. - Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở của quy luật cung - cầu. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì người bán có lợi vì bán được hàng hóa đắt hơn và ngược lại nếu cung lớn hơn cầu thì người mua lại có lợi vì mua được hàng hóa rẻ hơn.
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh chủ yếu trên thị trường với tính gay go và khốc liệt, cạnh tranh này có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp nhằm chiếm lĩnh thị phần, thu hút khách hàng và kết quả là hàng hóa gia tăng chất lượng, mẫu mã đẹp hơn nhưng giá cả lại thấp hơn và có lợi cho người mua hơn. Những doanh nghiệp giành được thắng lợi trong cạnh tranh sẽ tăng được thị phần, tăng doanh thu bán hàng tạo ra lợi nhuận tăng và có vốn để mở rộng đầu tư sản xuất. Căn cứ vào hình thái và tính chất của cạnh tranh trên thị trường thì cạnh tranh được chia làm hai loại: - Cạnh tranh hoàn hảo: Là loại hình cạnh tranh có đặc điểm như: Có vô số người bán, người mua độc lập với nhau (mỗi cá nhân đơn lẻ không có tác động tới giá cả thị trường); sản phẩm đồng nhất (người mua không cần phân biệt sản phẩm này của hãng nào); thông tin đầy đủ (cả người mua và người bán đều hiểu biết hoàn hảo, liên tục về sản phẩm và trao đổi sản phẩm); không có rào cản quy định (việc gia nhập và rút lui khỏi thị trường là hoàn toàn tự do, động cơ duy nhất là lợi nhuận). - Cạnh tranh không hoàn hảo: Bao gồm cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền tập đoàn.
7 Cạnh tranh mang tính độc quyền: Là thị trường trong đó có nhiều hãng bán những sản phẩm tương tự (thay thế được cho nhau) nhưng được phân biệt khác nhau. Đặc điểm của loại hình cạnh tranh này là sản phẩm đa dạng hóa: Các hãng cạnh tranh với nhau bằng việc bán sản phẩm khác nhau về nhãn hiệu, mẫu mã, bao bì, các điều kiện dịch vụ đi kèm, chất lượng và danh tiếng; mỗi hãng là người sản xuất duy nhất đối với sản phẩm của mình; hình thức cạnh tranh chủ yếu thông qua nhãn mác. Cạnh tranh mang tính độc quyền tập đoàn: Là loại hình cạnh tranh khi đó thị trường chỉ có vài hãng bán những sản phẩm đồng nhất (độc quyền tập đoàn thuần túy) hoặc phân biệt (độc quyền tập đoàn phân biệt). Đặc điểm của độc quyền tập đoàn là chỉ có ít hãng cạnh tranh trực tiếp; các hãng phụ thuộc chặt chẽ (mỗi hãng khi ra quyết định phải cân nhắc cẩn thận xem hành động của mình ảnh hưởng như thế nào đến đối thủ cạnh tranh và sẽ phải ứng xử ra sao); tốc độ phản ứng của thị trường có thể rất nhanh (thay đổi giá) hoặc đòi hỏi có thời gian (trường hợp cải tiến sản phẩm); việc gia nhập vào thị trường của các hãng mới là khó khăn (rào chắn cao) vì những trở ngại đầu tiên như nền kinh tế theo quy mô, đang phải chi nhiều tiền cho bản quyền để tạo lập vị thế, danh tiếng trên thị trường.
Căn cứ vào phạm vi ngành kinh thế thì cạnh tranh được chia làm hai loại: - Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất, tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó, trong đó các chủ doanh nghiệp tìm mọi cách để thôn tính lẫn nhau, giành giật khách hàng về phía mình, chiếm lĩnh thị trường. Biện pháp cạnh tranh của hình thức này chủ yếu là cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, giá trị cá biệt (giá trị xã hội), thu lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả cạnh tranh trong nội bộ ngành là làm cho kĩ thuật phát triển, điều kiện sản xuất trong một ngành thay đổi, giá trị hàng hóa được xác định lại, tỷ suất lợi nhuận 8 giảm xuống, và doanh nghiệp nào chiến thắng sẽ mở rộng được phạm vi hoạt động, doanh nghiệp thua sẽ mất thị phần, thu hẹp phạm vi hoạt động, thậm chí dẫn tới phá sản. - Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn.
Biện pháp cạnh tranh của hình thức này là hình thức chuyển dịch vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành có nhiều lợi nhuận hơn. Cạnh tranh giữa các ngành sẽ đem lại kết quả là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư ở các ngành khác nhau với cùng một số vốn bỏ ra chỉ thu được lợi nhuận như nhau, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), trong “Báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu”, năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra. Theo WEF, năng lực cạnh tranh có thể chia thành ba cấp cơ bản: - Năng lực cạnh tranh quốc gia: Là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được vốn đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân. - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Là khả năng duy trì và mở rộng thị phần,thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: Lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp,. - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm: Được đo bằng thị phần của sản phẩm, dịch vụ cụ thể trên thị trường. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ 9 phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó: Chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ; yếu tố công nghệ trong sản phẩm, dịch vụ;.4 Khái niệm về đối thủ cạnh tranh Thuật ngữ “đối thủ cạnh tranh” có thể định nghĩa là một tổ chức bất kỳ cung ứng, hay trong tương lai có thể cung ứng những sản phẩm và dịch vụ có mức độ lợi ích tương tự (hay ưu việt hơn) cho khách hàng.