Chương 1 : Cơ Sở Lý Luận về Năng Lực Cạnh Tranh Của Ngân Hàng Thương Mại Chương 2 : Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Hàng Hải VN Chương 3 : Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân Hàng TMCP Hàng Hải VN. 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Lý Luận chung về năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm cạnh tranh Đã có rất nhiều khái niệm cũng như quan niệm về cạnh tranh khác nhau, xét ở nhiều góc độ từ cạnh tranh giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp, cạnh tranh giữa các ngành đến cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Trong thế kỷ thứ XX, cũng đã có rất nhiều lý thuyết về cạnh tranh hiện đại được ra đời bởi nhiều nhà kinh tế học lỗi lạc: P.Barney, Michael Porter - cha đẻ thuyết chiến lược cạnh tranh,. Xét dưới góc độ là một hiện tượng xã hội, cạnh tranh được định nghĩa trong quyển tử điển kinh doanh của Anh – xuất bản 1992 : “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” Từ điển Bách Khoa Việt Nam đưa khái niệm “cạnh tranh trong kinh doanh là một hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất” GS Tôn Thất Nguyễn Thiêm đã viết “cạnh tranh trên thương trường phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải để diệt trừ đối thủ của mình mà là để đem lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ”.
Qua một số khái niệm, nhận định cơ bản tiêu biểu về cạnh tranh, ta có thể nhận thấy, cạnh tranh được hiểu theo một cách tích cực là một doanh nghiệp luôn khai thác 2 tối đa những lợi thế có được để đạt được những cơ hội, những lợi nhuận trên cùng một thị trường với đối thủ, và qua đó khách hàng sẽ có được lợi ích lớn nhất bởi sự cạnh tranh của các doanh nghiệp cùng ngành, đây là cạnh tranh lành mạnh, không phải cạnh tranh để tiêu diệt đối thủ. Năng lực cạnh tranh: Từ nền tảng cơ sở về cạnh tranh, chúng ta có thể tìm thấy không ít những khái niệm của giới chuyên môn về năng lực cạnh tranh của một DN hay nói riêng là một Ngân Hàng. Theo Michael Porter, năng lực cạnh tranh là khả năng công ty dựa trên năng lực đặc thù của mình, tạo ra sự khác biệt, độc đáo thông qua các sản phẩm có giá trị và sự dị biệt, tức bao gồm những yếu tố tạo nên giá trị vô hình. Cũng theo Michael Porter, “Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn, hoặc là có khả năng khác biệt hoá sản phẩm để đạt được những mức giá cao hơn trung bình.
Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hoá hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn”. Tuy nhiên, Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm lại viết rằng nếu một doanh nghiệp chỉ chú trọng đến việc gia tăng giá trị nội tại của sản phẩm đưa ra thị trường, tức chỉ chú trong đến giá trị gia tăng tạo nên từ khoảng cách giữa giá bán và giá thành của hàng hóa dịch vụ thì đến một lúc nào đó nỗ lực của doanh nghiệp trở nên vô nghĩa do các doanh nghiệp hầu như tiếp cận được các yếu tố đầu vào như nhau trong quá trình toàn cầu hóa, hoặc do các khách hàng cung cấp. Khi đó năng lực cạnh tranh của công ty phụ thuộc nhiều và giá trị tăng ngoại sinh trên cơ sở mở rộng tầm nhìn hướng về thị trường và khách hàng [10] Cũng giống như mọi doanh nghiệp khác, NHTM là một doanh nghiệp và là doanh nghiệp đặc biệt nên mục đích lớn vẫn là lợi nhuận, hiệu quả. Từ đó có thể tóm tắt về năng lực cạnh tranh của NHTM : 3 “ Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm củng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh” 1.2 Lợi thế cạnh tranh Như vậy, để tồn tại và phát triển, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần xác định rõ những năng lực cạnh tranh cần có của mình và đồng thời phải thường xuyên thực hiện những chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp trong từng thời kỳ hoạt động và phát triển, từng phân khúc thị trường cạnh tranh.
Để nâng cao được năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần xác định được đâu là lợi thế cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp. Lợi thế cạnh tranh là những đặc thù, những đặc điểm làm cho doanh nghiệp nổi bật, khác biệt so với các doanh nghiệp khác. Porter, lợi thế cạnh tranh được thể hiện ở nhóm yếu tố: Sự khác biệt: tức lợi thế cạnh tranh được hình thành dựa trên sự khác biệt của hàng hóa sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp cung ứng ra thị trường. Những sự khác biệt này được hiểu theo một hướng tích cực giúp sản phẩm thu hút hơn, được ưu chuộng hơn.
Ví dụ: sự khác biệt về mẫu mã, đặc tính, dịch vụ hậu mãi v. Chi phí: tức khả năng tiết giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể. Doanh nghiệp có chi phí thấp hơn mức chi phí bình quân ngành sẽ có được lợi thể cạnh tranh mạnh mẽ hơn bởi tỷ suất lợi nhuận cao hơn và khả năng linh hoạt trong việc xử lý các yếu tố về giá trước những đối thủ cạnh tranh.2 Sự khác biệt giữa cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và cạnh tranh trong các ngành khác: Ngân hàng với những đặc điểm của một doanh nghiệp đặc biệt, các sản phẩm chủ yếu là dịch vụ tài chính liên quan đến tiền tệ, là những sản phẩm vô hình. Đồng thời hoạt động của ngành ngân hàng cũng mang yếu tố liên kết hệ thống mạnh mẽ, là xương 4 sống của nền kinh tế, đặc biệt là tiền tệ, chịu sự quản lý chặt chẽ của NHTW, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế.
Do đó, bên cạnh những đặc điểm chung cơ bản, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng còn có những điểm khá khác biệt, có thể kể đến: Trước tiên là các yếu tố khách quan, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các biến số vĩ mô, của các chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, các chính sách lãi suất, tỷ giá, sự biến thiên của lạm phát, tăng trưởng kinh tế. Như đã phân tích, hoạt động của các ngân hàng có yếu tố liên kết, ảnh hưởng chặt chẽ lẫn nhau. Việc tồn tại hoặc phá sản của một Ngân hàng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống còn của cả hệ thống. Ví dụ: sự đổ vỡ domino trong khủng hoảng tiền tệ 1997 tại Đông Nam Á hay gần nhất là khủng hoảng kinh tế Mỹ với sự sụp đổ dây chuyền của hàng loạt ngân hàng lớn nhỏ - năm 2007 Sự vận hành, cung ứng sản phẩm ra thị trường, ngoài quyền lợi còn là chức năng, nhiệm vụ của hệ thống ngân hàng trong việc cùng xây dựng, duy trì và phát triển thị trường tài chính, tiền tệ của quốc gia.
Do đó, đôi lúc một sản phẩm phải được sự hỗ trợ của nhiều ngân hàng trong hệ thống để cùng thực hiện hoàn thiện một qui trình nhằm đáp ứng một nhu cầu dịch vụ tài chính trong nền kinh tế. ví dụ: việc thực hiện thanh toán liên ngân hàng, thanh toán quốc tế, dịch vụ thẻ quốc tế v. Do đó thường không có sự cạnh tranh đối lập hoàn toàn trong lĩnh vực ngân hàng. Do khả năng chi phối ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực kinh tế khác nên hoạt động ngân hàng chịu sự giám sát chặt chẽ của NHNN, đôi khi phải chịu sự chi phối mang tính hành chính, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình cạnh tranh cũng như phát triển các năng lực cạnh tranh nội tại của Ngân hàng.3 Đặc điểm các yếu tố hình thành năng lực cạnh tranh của một NHTM: 5 1.1 Nguồn nhân lực: Không chỉ riêng Ngân hàng mà bất kỳ doanh nghiệp nào, nhân tố con người nghĩa là đội ngũ cán bộ công nhân viên các cấp, luôn là nguồn tài sản vô giá, là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến quá trình thành bại của một tổ chức.
Từ đó, để phát huy tối đa thế mạnh, triển khai thành công các chiến lược ngắn – trung và dài hạn của mình, Ngân hàng luôn phải chú trọng đầu tiên đến yếu tố con người và phải luôn có những chính sách nhằm cấu trúc, xây dựng đội ngũ nhân sự phù hợp. Xét đến yếu tố nhân sự, chúng ta có thể kế đến các khía cạnh sau: Số lƣợng lao động : với vai trò là đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ, với số lượng mạng lưới kênh phân phối luôn phải đảm bảo song song với yếu tố thuận lợi giao dịch cho khách hàng do đó luôn phải mở rộng, nâng cao chất lượng, thì số lượng nhân sự của một ngân hàng cũng phải luôn phải phát triển theo tỷ lệ thuận. Điều này, chúng ta sẽ nhận thấy sự khác biệt so với việc phát triển nhân sự ở một số ngành sản xuất, khi sử dụng công nghệ càng cao, doanh nghiệp sẽ càng tinh giản số lượng lao động dù năng lực cung ứng vẫn được nâng cao. Chất lƣợng lao động : khi bàn đến chất lượng của nhân sự của một tổ chức, chúng ta thường tập trung đánh giá các yếu tố Yếu tố nền tảng cơ sở từ đội ngũ nhân viên: bao gồm học vấn và và các kỹ năng mềm cần có như kỹ năng thuyết trình, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, thuyết phục khách hàng.
đây là những yếu tố quan trọng để giúp cho doanh nghiệp có thể đạt được nhanh chóng những kế hoạch xây dựng đào tạo và phát triển nguồn lực của mình.