CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1Khái niệm cạnh tranh: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Marx) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất. (Từ điển Bách Khoa Việt Nam) Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
(Michael Porter,1996) Nói tóm lại, dù là với định nghĩa nào, cạnh tranh cũng được hiểu là sự ganh đua giữa các đối tượng trong thị trường nhằm đạt được lợi ích cao nhất. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa các nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc cũng có thể xảy ra giữa người sản xuất và người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa với giá cao nhưng người tiêu dùng lại muốn mua với giá thấp. Trong doanh nghiệp, cạnh tranh chính là chiến lược của doanh nghiệp với các đối thủ cùng ngành.2Các loại cạnh tranh: - Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, thì cạnh tranh được chia làm 3 loại: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Cạnh tranh giữa người mua và người bán Cạnh tranh giữa những người mua với nhau Cạnh tranh giữa những người bán với nhau - Căn cứ theo phạm vi ngành thì chia thành 2 loại: Cạnh tranh trong nội bộ ngành Cạnh tranh giữa các ngành - Căn cứ vào tính chất cạnh tranh thì có thể chia thành 2 loại: Cạnh tranh hoàn hảo hay cạnh tranh tự do : Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị trường mà không có chủ thể nào là có đủ ưu thế khống chế giá cả. Hình thức cạnh tranh này tuân theo các quy luật của thị trường và giá cả của sản phẩm được quyết định bởi quy luật cung cầu trên thị trường.
Cạnh tranh không hoàn hảo hay cạnh tranh độc quyền: có 2 loại Độc quyền nhóm: Xảy ra khi trong ngành có rất ít nhà sản xuất, vì đòi hỏi vốn lớn hay rào cản ra nhập ngành khó. (ví dụ: sản xuất máy bay, v.v…) Độc quyền tuyệt đối: Xảy ra khi trên thị trường tồn tại duy nhất một nhà sản xuất và giá cả hay số lượng sản phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào nhà sản xuất (Ví dụ : Công ty Điện lực Việt Nam, Công ty cấp thoát nước, v.v…) - Căn cứ vào hành vi, cạnh tranh được chia làm 2 loại: Cạnh tranh lành mạnh: Là loại cạnh tranh theo đúng quy định của pháp luật, đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh. Trong hình thức cạnh tranh này, các doanh nghiệp không dùng những thủ đoạn nhằm triệt hạ đối thủ để mình giành phần thắng mà phải dựa trên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 những luật chơi công bằng, khi đó ai tạo được sự khác biệt và mang lại nhiều lợi ích nhất cho người tiêu dùng sẽ thắng. Cạnh tranh không lành mạnh: là loại cạnh tranh mà doanh nghiệp dùng những thủ đoạn bất chính, trái với đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh để tiêu diệt đối thủ.
Đây là loại cạnh tranh không được xã hội chấp nhận vì tính tiêu cực mà nó mang lại. Hoạt động cạnh tranh diễn ra trong một môi trường có nhiều người bán và nhiều người mua và tuân theo những quy luật nhất định của thị trường. Vì vậy để tồn tại và phát triển bền vững thì doanh nghiệp cần phải có những chiến lược cạnh tranh phù hợp.2 Lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh xuất phát từ nhiều hoạt động riêng biệt của doanh nghiệp. Là những lợi thế mà doanh nghiệp có được để giành phần thắng về mình.
Theo quan điểm của Michael Porter, “ bằng cách thực hiện những hoạt động chiến lược quan trọng với chi phí thấp hơn hoặc đạt hiệu quả tốt hơn những đối thủ, một doanh nghiệp sẽ có được lợi thế cạnh tranh” (Michael Porter, Competitive Advantage, 1985, 72) Ngoài ra, Michael Porter còn cho rằng, nếu một doanh nghiệp chỉ tập trung vào hai mục đích là tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm thì sẽ không đảm bảo sự thành công lâu dài cho doanh nghiệp đó, mà điều quan trọng là phải xây dựng được lợi thế cạnh tranh bền vững, có nghĩa là phải liên tục cung cấp cho thị trường những giá trị đặc biệt mà không đối thủ nào có thể cung cấp được.3 Năng lực cạnh tranh: 1.1Khái niệm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa về năng lực cạnh tranh cho cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Nguyễn Thị Nhiễu – Bộ Công Thương) Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp chính là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn như: lợi nhuận, giá cả, hoặc chất lượng sản phẩm,… nhằm khai thác thị trường hiện tại hoặc làm nảy sinh thị trường mới. Nó thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ trong việc thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng để thu được lợi nhuận ngày càng cao. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ chính thực lực của doanh nghiệp đó, thông qua các tiêu chí: công nghệ, tài chính, nhân lực, bộ máy tổ chức, v.v…(Lê Công Hoa, 2006) Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực của doanh nghiệp thôi thì chưa đủ, bởi vì cạnh tranh đòi hỏi phải diễn ra trong một môi trường nhất định, và trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay thì lợi thế bên ngoài cũng là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp.2Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Theo Michael Porter, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gồm 4 yếu tố: a) Yếu tố nội tại của doanh nghiệp: bao gồm các yếu tố về con người, trình độ, vốn,… được chia thành 2 loại: Loại 1: các yếu tố cơ bản như: Môi trường tự nhiên, địa lý, lao động Loại 2: Các yếu tố nâng cao như: thông tin, lao động trình độ cao,… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Trong đó yếu tố thứ 2 cần phải được đầu tư một cách đầy đủ và đúng mức, vì đây là yếu tố mang tính quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
b) Nhu cầu của khách hàng: Một doanh nghiệp không thể nào thỏa mãn tất cả nhu cầu của khách hàng, vì vậy doanh nghiệp cần phải phát huy tốt nhất những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Mặt khác, thông qua nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp có thể cải thiện hoạt động kinh doanh và dịch vụ của mình, và mở rộng các loại hình sản phẩm và dịch vụ mới. Nếu các loại hình mới này được phát triển rộng rãi ra thị trường thì doanh nghiệp sẽ có lợi thế cạnh tranh vì là người tiên phong. Vì vậy, có thể nói nhu cầu của khách hàng là một yếu tố có tác động rất lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp.
c) Các lĩnh vực liên quan và các dịch vụ phụ trợ: Đó là các yếu tố như : thị trường tài chính, dịch vụ ngân hàng, sự phát triển của công nghệ thông tin, v.v… d) Chiến lược của doanh nghiệp, cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh: Cũng là yếu tố nội tại của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đều mong muốn được hoạt động trong một môi trường phù hợp, được quản lý và tổ chức chặt chẽ để kích thích được các lợi thế cạnh tranh nhằm thúc đẩy sự cải tiến về chất lượng sản phẩm và dịch vụ. (Michael Porter, 1985) Ngoài 4 yếu tố trên, doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng của hai yếu tố bên ngoài là cơ hội và vai trò của Chính phủ. Chính phủ có vai trò định ra các chính sách về thuế, công nghệ, đào tạo, trợ cấp và các quy định pháp luật về cạnh tranh, tạo môi trường cho doanh nghiệp hoạt động và phát triển.3Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Có thể xếp thành 3 nhóm yếu tố như sau: Nhóm 1: Môi trường vĩ mô LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần có môi trường để hoạt động.
Am hiểu về các nhân tố này sẽ giúp doanh nghiệp có những chiến lược phù hợp với những biến động của môi trường, không để ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của mình. Môi trường vĩ mô gồm có 5 yếu tố sau: a) Nhân tố kinh tế: Một môi trường kinh tế ổn định và tăng trưởng sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Dân cư phát triển đồng nghĩa với nhu cầu tăng lên, đây là cơ hội cho các doanh nghiệp tự hoàn thiện mình và vươn lên chiếm lĩnh thị trường. Ngược lại, một nền kinh tế suy thoái, khủng hoảng sẽ gây hoang mang tâm lý người tiêu dùng, từ đó sẽ dẫn đến sức mua của người dân giảm sút, khiến cho các doanh nghiệp bị giảm sản lượng và phải đấu tranh gay gắt để tồn tại.
Vì vậy, có thể nói, trong các nhân tố vĩ mô, thì môi trường kinh tế là nhân tố quan trọng nhất và cũng có tầm ảnh hưởng nhất đối với doanh nghiệp. b) Nhân tố Chính phủ: Chính phủ có vai trò quan trọng trong nền kinh tế vì Chính phủ đưa ra những chính sách để điều tiết thị trường. Những chính sách về chính trị và pháp luật chính là nền tảng và là cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một môi trường. Chính trị ổn định và luật pháp rõ ràng sẽ là môi trường thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp.
Chính trị không ổn định thì kinh tế cũng không thể ổn định. Luật pháp tác động trực tiếp đến hoạt động của mỗi doanh nghiệp và đôi khi dùng để bảo vệ lợi ích cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Mỗi thị trường đều được quản lý bởi những hệ thống pháp luật riêng, cho nên doanh nghiệp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.