CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái niệm về năng lực cạnh tra nh 1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh Khái niệm về cạnh tranh: Cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế cơ bản của kinh doanh và là đặc trưng của kinh tế thị trường. Tuy nhiên do cách tiếp cận khác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau nên trong thực tế có nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam -Tập 1 định nghĩa: Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất. Theo từ điển kinh tế kinh doanh Anh-Việt thì: Cạnh tranh là sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thi trường để giành được nhiều khách hàng, do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hóa tốt nhất. Giáo trình kinh tế chính trị học Mác-Lênin lại đưa ra khái niệm: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất-kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất-kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh.
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Dù có sự khác biệt trong diễn đạt và phạm vi nhưng các khái niệm trên cũng có nét tương đồng về nội dung: Thứ nhất, cạnh tranh là quan hệ kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa các chủ 4 thể của nền kinh tế thị trường cùng theo đuổi mục đích tối đa. Đối với doanh nghiệp đó là lợi nhuận tối đa, đối với người tiêu dùng đó là tối đa hóa mức độ thỏa mãn hay sự tiện lợi khi tiêu dùng sản phẩm dịch vụ. Thứ hai, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể trong đó các bên tham gia đều phải tuân thủ những ràng buộc chung như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh… Thứ ba, phương pháp cạnh tranh rất đa dạng: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng giá sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm dịch vụ… Với cách tiếp cận trên, có thể hiểu: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận. Khái niệm về năng lực cạnh tranh: Mặc dù hiện nay thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” được sử dụng rất rộng rãi nhưng vẫn chưa có một khái niệm rõ ràng cũng như cách thức đo lường năng lực cạnh tranh ở cả cấp độ quốc gia, cấp ngành, cấp doanh nghiệp và cấp sản phẩm dịch vụ. Ở cấp độ doanh nghiệp, mặc dù có những khái niệm khác nhau nhưng tất cả đều gắn năng lực cạnh tranh với ưu thế của sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp đưa ra thị trường hoặc gắn với thị phần mà doanh nghiệp chiếm giữ thông qua khả năng tổ chức, quản trị, đổi mới công nghệ, giảm chi phí nhằm duy trì hay gia tăng lợi nhuận, bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh trước hết phải được tạo ra từ nội tại của doanh nghiệp.
Đó là các yếu tố nội tại được xác định bằng các tiêu chí về tài chính, công nghệ, quản trị… Ngoài ra còn phải đối chiếu các yếu tố này với doanh nghiệp cạnh tranh để phát hiện ra lợi thế của mình. 5 Trong nền kinh tế thị trường, việc đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần lấy yêu cầu, sự thỏa mãn của khách hàng làm căn cứ bởi khách hàng vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên không một doanh nghiệp nào có thể đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng, doanh nghiệp có lợi thế mặt này thì bất lợi ở mặt khác. Vấn đề ở chỗ doanh nghiệp cần đánh giá đúng đắn mặt mạnh, mặt yếu của mình để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Như vậy, có thể hiểu, năng lực cạnh tranh c ủa doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụ ng các yếu tố năng lực của doanh nghiệp trong một môi trường kinh doanh bình đẳng để duy trì và tạo ra lợi th ế cạnh tranh nhằm đạt được kết quả hoạt động kinh doanh cao hơn so v ới đối thủ và thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh. Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hi ện tượng phổ biến và có ý nghĩa quan trọ ng đối với phát triển kinh t ế ở các quốc gia. Việc nghiên c ứu hiện tượng cạnh tranh đã có từ lâu và lý thuyết về cạnh tr anh cũng xuất hiện từ r ất sớm với các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh của trường phái tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại. Các lý thuyết này đã làm rõ bản chất của cạnh tranh, vai trò và tác động của cạnh tranh, các phương thức cạnh tranh v.
Tuy nh iên, năng lực cạnh tranh và việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh một cách hệ th ống lại được bắt đầu khá muộn và chỉ mới từ những nă m 1980 đến nay. Các hướng nghiên cứu về NLCT qua nghiên c ứu của tác giả được chia thành 5 hướng chính: (1)NLCT tiếp cận theo quan đi ểm của lý thuyết cạnh tranh truyền thống; (2) NLCT tiếp cận theo chu ỗi giá trị; (3)NLCT tiếp cận theo định hướ ng thị trường; (4)NLCT tiếp cận theo lý thuyết nguồn lực doanh nghiệp ; (5) NLCT tiếp cận theo lý thuyết năng lực (6) NLCT theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh truyền thống : 6 Lý thuyết cạnh tranh truyền thống với các trường phái nghiên cứu nổi tiếng như: Kinh tế học Chamberlin, Kinh tế học tổ chức (Industrial Organization economics - IO). Lý thuyết cạnh tranh trên cơ sở kinh tế học IO (Porter, 1980), cạnh tranh độc quyền (Chamberlin, 1933) thường dựa trên tiền đề là các doanh nghiệp trong cùng ngành có tính đồng nhất về nguồn lực và chiến lược kinh doanh họ sử dụng (Baney, 1991). Tuy nhiên, khi môi trường kinh doanh thay đổi và có tác động đến chiến lược kinh doanh thì các thuộc tính khác biệt của doanh nghiệp trong cùng ngành sẽ không thể tồn tại lâu dài vì chúng thường có thể dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh bắt chước, hoặc mua bán trên thị trường nguồn lực (Barney, 1991; Porter, 1980).
Kinh tế học tổ chức và kinh tế độc quyền phân tích năng lực cạnh tranh trong điều kiện mất cân bằng của thị trường và nền kinh tế độc quyền với giả định doanh nghiệp có lợi thế tuyệt đối về các tài sản, nguồn lực. Do vậy, trong môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng thì các điều kiện về chí phí, công nghệ, quy mô,. đã không còn là lợi thế của doanh nghiệp. Mặt khác, đối tượng phân tích của kinh tế học tổ chức và cạnh tranh độc quyền đều hướng tới các ngành kinh doanh với giả định là các doanh nghiệp trong cùng ngành có điều kiện về tài sản, nguồn lực đồng nhất.
Đây là hạn chế lớn nhất trong việc giải thích lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Năng lực cạnh tranh tiếp cận từ chuỗi giá trị: Chuỗi g iá trị là một khái ni ệ m đư ợc đưa ra đầu tiên bởi Porter vào nă m 1985 trong cuốn “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance”. Porter (1985) cho rằng, ch uỗi giá trị gồ m có 9 hoạt động, trong đó có 5 hoạt động cơ bản và 4 hoạt động bổ tr ợ. Những hoạt động cơ bản thể hiện một chu ỗi những công việc từ cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, gia công sản phẩm, phân phối sản phẩm, đến hoạt động bán hàng và các dịch v ụ sau bán hàng.
Đây có thể coi là các hoạt động trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, làm tốt các ho ạt động cơ bản này cũng đồng nghĩa sẽ tạo ra năng lực cạnh tranh vượt trội so với đối thủ. 7 Những hoạt động bổ trợ, tuy không trực tiếp l iên quan đến việc tạo ra giá trị sử dụng cho sản phẩ m, nhưng chúng tham gia vào toàn bộ quá trình tạo ra giá trị của các hoạt động cơ b ản, có chức năng trợ giúp cho các hoạt động c ơ bản như hoạt động quản trị, h oạt động nghiên cứu và phát triển (R & D), hoạt động quản trị nguồn nhân lực. Năng lực cạnh tranh tiếp cận dựa trên định hướng thị trường: Lý thuyết năng lực cạnh tranh dựa trên định hướng thị trường (Market Orientation - MO) được phát triển tr ên cơ sở cho rằng một doanh nghiệp sẽ đạt được nă ng lực cạnh tranh bằng cách t ập trung vào việc làm thế nào để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, tạo ra giá trị khách hàng tốt h ơn so với đối thủ và đạt được kết quả hoạt động kinh doanh. Đây là quan điể m nghiên cứu năng lực cạnh tranh xuất phát từ thị trường, thực chất là đi t ừ kết quả của các hoạt động giá tr ị để truy ngược lại điều gì tạo ra giá tr ị khách hàng vượt trội so với đối th ủ và do đó sẽ đe m lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Lý thuyết này bao gồm 8 tiếp cận nghiên cứu: quan điểm quyết định (Shapiro, 1988), quan điểm thông tin thị trường (Kohli & Jaworski,1990), quan điểm hành vi văn hóa (Day, 1994; Deshpande & ctg, 1993; Slater & Narver, 1990), quan điểm trọng tâm chiến lược (Ruekert, 1992), quan điểm định hướng khách hàng (Deshpandé & ctg, 1993.