Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong xu thế hội nhập - Chương 2: Thực trạng kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu da giầy Việt Nam - Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu da giầy Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - 1- CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG XU THẾ HỘI NHẬP 1. KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái niệm về cạnh tranh Các học thuyết kinh tế thị trường, dù trường phái nào cũng đều thừa nhận rằng: cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cung - cầu và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản của thị trường, là đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường, cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường. Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau, nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh, đặc biệt là phạm vi của thuật ngữ này.
Có thể dẫn ra như sau: Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” [8]. Cuốn Từ điển kinh doanh của Mariam Webster xuất bản năm 1992 thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” [36]. Theo Từ điển Bách Khoa của Việt Nam thì: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất” [6]. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Cạnh tranh là khái niệm của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” [18].
Theo cuốn Kinh tế học của M.Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường” [35]. - 2- Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể” [9]. Ngoài ra, còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh. Song qua các định nghĩa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau: Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự.
Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (một cơ hội, một sản phẩm, dự án…). Một loạt điều kiện có lợi (một thị trường, một khách hàng. Mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao. Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: Đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh.
Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: Cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm (chính sách định giá thấp; chính sách định giá cao; chính sách ổn định giá; định giá theo thị trường; chính sách giá phân biệt; bán phá giá); cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán. Với cách tiếp cận trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn khái niệm cạnh tranh có thể hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi [10].
Năng lực cạnh tranh và các cấp độ cạnh tranh Khi nghiên cứu về cạnh tranh, các nhà nghiên cứu còn sử dụng các khái niệm sức cạnh tranh, năng lực cạnh tranh,. Tuy nhiên, các khái niệm này là một khái - 3- niệm phức hợp được xem xét ở các cấp độ khác nhau như: Năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ. Một số tác giả như Paul Krugman phê phán khái niệm năng lực/sức cạnh tranh của quốc gia vì - theo Krugman - không có quốc gia nào bị phá sản vì năng lực cạnh tranh kém nhưng doanh nghiệp có thể bị phá sản vì không cạnh tranh được trên thị trường. Do đó, việc nhận biết và phân loại những khái niệm sức cạnh tranh khác nhau là rất cần thiết, nếu muốn hiểu một cách đầy đủ khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh quốc gia Theo định nghĩa của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF - World Economic Forum) thì năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng của một nền kinh tế có thể tạo ra tăng trưởng bền vững trong môi trường kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới [11]. Ngoài những yếu tố về vị trí địa lý kinh tế, tài nguyên thiên nhiên…năng lực cạnh tranh của quốc gia chịu sự chi phối bởi các nhóm nhân tố: - Nhóm 1: Mức độ mở của nền kinh tế, bao gồm độ mở của thương mại và đầu tư (thuế quan và hàng rào phi thuế quan, chính sách xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, đầu tư trực tiếp của nước ngoài). - Nhóm 2: Vai trò và hoạt động của chính phủ (mức độ can thiệp của Nhà nước, năng lực của Chính phủ, quy mô của Chính phủ, chính sách tài khóa, hệ thống thuế, lạm phát). - Nhóm 3: Các yếu tố về tài chính (khả năng hoạt động trung gian tài chính, rủi ro tài chính, hiệu quả cạnh tranh, đầu tư và tiết kiệm).
- Nhóm 4: Các yếu tố về công nghệ (năng lực công nghệ nội sinh, công nghệ chuyển giao, mức độ đầu tư cho nghiên cứu và triển khai). - Nhóm 5: Các yếu tố về kết cấu hạ tầng (chất lượng hệ thống giao thông vận tải, mạng viễn thông, điện, nước, kho tàng và các phương tiện vật chất). - Nhóm 6: Quản lý kinh doanh, quản lý nhân lực. - Nhóm 7: Các yếu tố về lao động (số lượng lao động, trình độ tay nghề và năng suất lao động, hiệu quả và tính linh hoạt của thị trường lao động, chương trình xã hội) - 4- - Nhóm 8: Các yếu tố về thể chế (chất lượng của các thể chể pháp lý).
Từ năm 2000, WEF điều chỉnh lại các nhóm tiêu chí, gộp thành ba nhóm lớn để đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia là: Sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ, tài chính, quốc tế hoá. Trong đó, trọng số của sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ đã tăng mạnh từ 1/9 lên 1/3, với hai chỉ số mới - chỉ số năng lực cạnh tranh tăng trưởng (Growth Competitiveness Index - GCI) và chỉ số năng lực cạnh tranh hiện hành (Current Competitiveness Index - CCI). Theo phân tích và đánh giá của WEF thì sức vươn lên trong hội nhập, cạnh tranh của nền kinh tế nước ta chưa mạnh, trong khi xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra yêu cầu rất cao tới năng lực cạnh tranh của các quốc gia và năng lực cạnh tranh của cấp quốc gia ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Như vậy, có thể thấy rằng năng lực cạnh tranh của quốc gia được xác định trước hết bằng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, và sự có mặt (hay thiếu vắng) các yếu tố quy định khả năng tăng trưởng kinh tế dài hạn trong các chính sách kinh tế đã thực hiện.
Tuy nhiên, khái niệm này lại không bao hàm được tất cả các khía cạnh về giá trị gia tăng, chẳng hạn sự tiến bộ về giáo dục, khoa học và công nghệ,. những vấn đề được coi là quan trọng đối với tiềm năng tăng trưởng dài hạn của một quốc gia. Đồng thời, nó cũng không phản ánh được nguyên nhân tạo ra năng lực cạnh tranh và kết quả của cạnh tranh. Một số nhà kinh tế khác lại đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của quốc gia dựa trên năng suất lao động, M.
Porter cho rằng: “Khái niệm có ý nghĩa nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động” [9]. Mở rộng khái niệm này thì năng lực cạnh tranh của quốc gia gần hơn với lý thuyết về lợi thế so sánh. Ngay trong lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Ricardo, một quốc gia có khả năng cạnh tranh hơn các quốc gia khác bởi trội hơn về một hay một vài yếu tố. Ông cho rằng, khả năng cạnh tranh của một quốc gia là một hệ thống gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau, có tác động qua lại và bổ sung cho nhau.
Các yếu tố này là nền móng, chỗ dựa cho các công ty, giữ vai trò quyết định, cho phép các công ty sáng tạo và duy trì lợi thế cạnh tranh trên một lĩnh vực cụ thể mà nước đó có lợi thế về tài nguyên. Tuy nhiên, mọi yếu tố đều có thể thay đổi và do đó, năng lực cạnh tranh cũng có thể bị thay đổi.