Chương I: Cơ sở lý thuyết về phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chương II: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần giao nhận P&H. Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty Cổ phần giao nhận P&H. Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần giao nhận P&H 10 Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MỘT DOANH NGHIỆP 1 Lý thuyết về cạnh tranh .1 Khái niệm Cạnh tranh Sự sống luôn luôn vận động và phát triển cùng với quy luật cạnh tranh tất yếu để tồn tại.
Cạnh tranh là động lực và cũng là phương thức để xã hội đi lên. Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt: “Cạnh tranh là sự giành giật nhau để chiến thắng” Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các nhà sản xuất kinh doanh với nhau dựa trên chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm giành giật điều kiện sản xuất và nơi tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thưc đẩy sản xuất phát triển. Trước Đại hội VI của Đảng, ở nước ta thường dùng thuật ngữ thi đua, coi thi đua như là khẩu hiệu hành động. Điều này cũng dễ hiểu vì cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể chiếm vị trí tuyệt đối trong xã hội.
Chính cơ sở kinh tế đó đã sản sinh ra cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp. Trong có chế này, các chủ thể kinh tế không có quyền tự do quyết định cái gì sẽ được sản xuất, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai,…mà tất cả là do Nhà nước quyết định, còn các cơ sở kinh tế chỉ làm một việc là thi đua nhau để hoàn thành kế hoạch. Sau Đại hội VI của Đảng, nền kinh tế chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước. Theo cơ chế đó, các doanh nghiệp phải tự quyết định về ba vấn đề trọng tâm trong kinh doanh với mục đích sinh lời.
Và thuật ngữ thi đua từ sau Đại hội VI được thay thế bằng thuật ngữ thi đua mang tính chất kinh doanh. Sau Đại hội VII của Đảng, thuật ngữ cạnh tranh theo pháp luật hay cạnh tranh lành mạnh đã được sử dụng: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần giao nhận P&H 11 Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh Cạnh tranh (competition) là sự tranh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành giật thị trường hoặc khách hàng. Thực chất, đó là sự tranh đua tranh giành ưu thế hay giành độcquyền thị trường mua và thị trường bán hàng hoá, dịch vụ… Mục đích trực tiếp của các hoạt động cạnh tranh trên thị trường của các chủ thể kinh tế là giành những lợi thế để hạ thấp giá cả của các yếu tố “đầu vào” của các chu trình sản xuất, kinh doanh và nâng cao mức giá “đầu ra” sao cho với chi phí thấp nhất mà vẫn có thể đạt mức lợi nhuận cao nhất. Bởi vậy, thực chất của cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hoá, dịch vụ (mua và bán).
Đó cũng chính là con đường, phương thức để giành lấy lợi nhuận cao nhất cho các chủ thể kinh tế khi tham gia thị trường. Canh tranh tất yếu sẽ dẫn đến hình thành “giá cả trung bình” và “lợi nhuận bình quân” về từng loại sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. Vì thế, các chủ thể kinh tế là những người sản xuất kinh doanh khi tham gia vào thị trường với tư cách là người mua thì phải tìm đủ biện pháp để có thể mua được hàng hoá dịch vụ cần mua với giá thấp hơn mặt bằng giá nói chung (giá cả bình quân hay còn gọi là giá cân bằng) trên thị trường về chủng loại, chất lượng hàng hoá để có thể hạ tới mức thấp nhất giá thành sản xuất sản phẩm, dịch vụ hàng hoá của mình. Ngược lại, khi xuất hiện với tư cách người bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thì họ phải tìm đủ mọi biện pháp để bán với giá cao hơn giá cân bằng trên thị trường.
Nếu những yêu cầu đó không thành hiện thực thì họ sẽ bị loại ra khỏi thị trường, bị loại ra khỏi quy luật cạnh tranh và nguy cơ dẫn đến phá sản là khó tránh khỏi. Đối với người tiêu dùng cũng vây, nếu họ không đủ sức mua đề trả giá cân bằng trên thị trường thì họ cũng sẽ bị loại khỏi thị trường. Cạnh tranh là một xu thế tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường. Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh luôn là con dao hai lưỡi.
Một mặt nó đào thải không thương tiếc các doanh nghiệp có mức chi phí cao, sản phẩm có lượng kém. Mặt khác, nó buộc tất cả các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu để giảm chi phí, hoàn thiện giá trị sử dụng của sản phẩm, tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm để tồn tại và phát triển trên thị trường. Chính ở mặt này, cạnh tranh đã buộc các doanh Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần giao nhận P&H 12 Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh nghiệp phải tăng cường sức cạnh tranh của mình lên đồng thời phải thay đổi mối tương quan về thế lực để tạo ra các ưu thế trong cạnh tranh. Bất kỳ một loại sản phẩm nào khi đưa ra thị trường đều phải chịu một sức cạnh tranh nhất định.
Bởi vì một loại sản phẩm có thể được sản xuất bởi nhiều doanh nghiệp khác nhau và như vậy số lượng sản phẩm được cung ứng ra thị trường rất lớn. Các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau nhằm tiêu thụ hết sản phẩm của mình với mức lợi nhuận thu được lớn nhất. Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp có quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh do vậy mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng trở nên gay gắt.2 Phân loại cạnh tranh Cạnh tranh diễn ra muôn màu, muôn vẻ trê thị trường. Để phân loại cạnh tranh người ta có thể căn cứ vào một số các tiêu thức sau: Căn cứ vào số người tham gia trên thị trường, người ta chia làm ba loại: - Cạnh tranh giữa người bán và người mua.
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau. - Cạnh tranh giữa những người mua với nhau. Cạnh tranh giữa ngƣời bán với ngƣời mua: Là cuộc cạnh tranh theo “luật” mua rẻ bán đắt. Những người bán muốn bán các sản phẩm của mình với giá cao nhất, còn những người mua lại muốn mua sản phẩm với giá thấp nhất.
Giá cả cuối cùng được chấp nhận là giá thống nhất giữa những người bán và người mua sau quá trình “mặc cả” với nhau. Cạnh tranh giữa những ngƣời bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh trên thị trường nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ. Cạnh tranh giữa những ngƣời mua với nhau: Là cuộc cạnh tranh giữa những người mua nhằm mua được thứ hàng hoá mà họ cần. Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng lên.
Do thị trường khan hiếm nên người mua sẵn sàng chấp nhận giá cao để mua được những hàng hoá mà họ cần. Vì số người mua Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần giao nhận P&H 13 Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh đông nên người bán tiếp tục nâng giá hàng lên và người mua tiếp tục chấp nhận giá đó. Căn cứ vào phạm vi kinh tế người ta chia cạnh tranh thành hai loại: - Cạnh tranh giữa cácngành. - Cạnh tranh trong nội bộ ngành.
Cạnh tranh giữa các ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hoá thành giá trị sản xuất. Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu được lợi nhuận cao hơn. Biện pháp cạnh tranh là các doanh nghiệp phải cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động nhằm làm cho giá trị hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội để thu được lợi nhuận cao hơn.
Căn cứ vào chi phí bình quân của các doanh nghiệp, người ta chia cạnh tranh thành hai loai: - Cạnh tranh dọc. - Cạnh tranh ngang Cạnh tranh dọc: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quân thấp nhất khác nhau cùng tham gia vào thị trường. Khi đó, mỗi doanh nghiệp điều chỉnh mức giá và lượng hàng hoá bán ra của mình sao cho có thể đạt lợi nhuận cao nhất trên cơ sở quan sát giá bán của các doanh nghiệp khác. Quy luật cạnh tranh dọc chỉ ra rằng: sự thay đổi về giá bán hoặc lượng bán nói trên của doanh nghiệp sẽ có điểm dừng.
Tức là chỉ sau một thời gian nhất định sẽ hình thành một mức gía thống nhất trên thị trường. Có thể diễn giải quy luật này như sau: Giả sử trên thị trường có bốn doanh nghiệp A, B, C và D cùng bán một loại sản phẩm với mức chi phí cá biệt khác nhau. Giả sử mức chi phí cá biệt của A là lớn nhất và mức chi phí đó giảm dần đối với B, C và D. Do A có mức chi phí cá biệt lớn nhất nên Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần giao nhận P&H 14 Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh giá thành của A cao hơn giá thành bình quân thống nhất trên thị trường.
Sau quá trình cạnh tranh, A không có khả năng tái sản xuất nên bị loại ra khỏi thị trường cạnh tranh. B có giá thành sản phẩm cao thứ hai nhưng thấp hơn giá thị trường thống nhất do đó còn có khả năng thu lợi nhuận. C có mức chi phí thấp hơn B nên C có nhiệu lợi nhuận hơn B. D là doanh nghiệp có lợi nhuận lớn nhất.
Quá trình cạnh tranh làm doanh nghiệp A phá sản, doanh nghiệp B có mức chi phí bình quân lớn nhẩt trong các doanh nghiệp còn lại nên B được gọi là “doanh nghiệp cận biên”.