CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và năng lực lõi 1. Khái niệm cạnh tranh Theo K.Marx, nhà tư tưởng – nhà kinh tế chính trị nổi tiếng người Đức thì “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Bên cạnh đó,cuốn Kinh tế học của Samuelson và Nordhaus (2009) lại định nghĩa “cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng, thị trường”.
Do vậy có thể coi cạnh tranh là một hành vi và những nhân tố cùng tham gia vào hành vi này là các đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh từ góc độ của Tôn Thất Nguyễn Thiêm, người được đánh giá là chuyên gia đầu tiên trong mảng thương hiệu Việt Nam lại cho thấy cạnh tranh không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà là quá trình mỗi doanh nghiệp tự phát hiện ra những lợi thế của mình và phát huy nó nhằm mang lại những sản phẩm, dịch vụ với giá trị tốt hơn đối thủ. Từ những nghiên cứu trên có thể rút ra rằng, cạnh tranh là một thành phần tất yếu trong môi trường kinh doanh của nền kinh tế, là rào cản nhưng cũng là động lực cho sự phát triển của các thành phần tham gia vào nền kinh tế. Cạnh tranh tạo nên sự ràng buộc và vô hình tạo nên một sự cam kết ngầm của các doanh nghiệp trong quá trình hoàn thiện các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó.
Khái niệm về lợi thế cạnh tranh Trong môi trường doanh nghiệp, cạnh tranh được coi là một nét văn hóa, một cơ hội để cách doanh nghiệp có thể phát huy lợi thế vốn có và phát triển những năng lực 5 còn thiếu để hướng đến thành tựu lâu dài. Có rất nhiều định nghĩa về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp: Nhà hoạch định chiến lược cạnh tranh và chính sách cạnh tranh hàng đầu thế giới Micheal Porter nhận định rằng lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp là trái tim của doanh nghiệp đó và cho rằng yếu tố này được đánh giá dựa trên những giá trị mà công ty đem lại cho khách hàng vượt trội hơn những gì công ty đó phải trả cho chi phí tạo ra sản phẩm, hoặc dịch vụ đó (Porter, 2008). Bổ sung cho ý kiến này, Tác giả Ehmke (2008) đã định nghĩa lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp: “một lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh thông qua việc cung cấp cho khách hàng giá trị lớn hơn dù với giá thành thấp hơn hoặc đem lại lợi ích và dịch vụ bổ sung với giá tương đương hoặc có thể cao hơn”. Besanko và cộng sự (2000) cũng nhấn mạnh trong nghiên cứu của mình về năng lực hay còn gọi là lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp “Khi một doanh nghiệp dành được tỷ suất lợi nhuận kinh tế cao hơn tỷ suất lợi nhuận kinh tế trung bình của các doanh nghiệp khác cùng tham gia vào thị trường, nghĩa là doanh nghiệp đó có lợi thế cạnh tranh trên thị trường.” Kenichi Ohmae, bậc thầy của quản lý chiến lược thế giới đã phát triển mô hình 3C của mình, trong đó nêu ra ba yếu tố chính cần phải có để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp.
Đó là một tam giác chiến lược, trong đó, nêu ra sự kết hợp chặt chẽ và cân bằng giữa việc tập trung phát triển sức mạnh cốt lõi (Corporation) – tập trung hướng đến khách hàng (Customer) – và quan tâm đến các đối thủ cạnh tranh (Competition) (Kenichi, 1982; Van Vliet, 2009; Lê Thị Bích Ngọc, n. Qua đó có thể thấy, việc đầu tư chiến lược cho các lợi thế cạnh tranh luôn được ưu tiên trong quá trình thiết lập các chiến lược phát triển trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc có được lợi thế cạnh tranh là một chiến lược nhưng việc duy trì lợi thế đó lâu dài lại là một vấn đề cần được quan tâm, lưu ý. Do vậy, các doanh nghiệp không chỉ cần chú trọng xây 6 dựng lợi thế cạnh tranh so với đối thủ mà còn cần thiết lập một cơ sở cho lợi thế cạnh tranh được lâu bền.
Tóm lại, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệplà những điểm nổi trội trong sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp so với các đối thủ thông qua việc vượt qua một hoặc nhiều áp lực cạnh tranh. Khoản cách lợi thế cạnh tranh càng lớn và càng bền vững sẽ tạo cơ hội thành công của doanh nghiệp càng tăng. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Trong từ điển tiếng Việt, năng lực cạnh tranh được định nghĩa là “khả năng dành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại, trên cùng một thị trường tiêu thụ”. Định nghĩa về năng lực cạnh tranh được rút ra trong nghiên cứu của tác giả King và cộng sự (2001), qua đó năng lực cạnh tranh là một bộ chỉ số đo lường bao gồm năng suất sử dụng lao động, vốn, tài nguyên và các yếu tố khác cấu thành sức mạnh cạnh tranh của một doanh nghiệp.
Vậy có thể thấy năng lực cạnh tranh không phải là một yếu tố, một lợi thế mà là một sự tổng hòa của các nhân tố cấu thành bộ năng lực cho một doanh nghiệp, quyết định sức mạnh của doanh nghiệp đó. Khái niệm về năng lực lõi Khái niệm năng lực lõi được định nghĩa bởi Michael Porter là sự khác biệt của một doanh nghiệp so với tất cả những doanh nghiệp khác trên thị trường. Nó là đặc điểm nổi bật, đặc trưng của doanh nghiệp đó. Trong khi đó, Hamel và Prahalad (1994) lại chỉ ra năng lực lõi là các sở trường, là thế mạnh của doanh nghiệp đối với nguồn lực vật chất và phi vật chất.
Những năng lực này là riêng có và không thể bị nhầm lẫn với các doanh nghiệp khác. Nó làm nên đặc điểm nhận dạng cho doanh nghiệp, không bị nhầm lẫn với các cá thể khác trong cùng một cộng đồng. Đặc điểm của năng lực cốt lõi đó là: có tính thích hợp, khó bị sao chép và độ phủ rộng. 7 Theo Campell và cộng sự(1997) thì năng lực cốt lõi của một doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp và giúp nó đâm chồi nảy nở ở một loạt các thị trường liên quan.
Có thể thấy, năng lực cốt lõi là những nét tinh túy của một công ty, doanh nghiệp khiến cho doanh nghiệp đó có thể phát triển và bứt phá vượt lên trên tất cả những đối thủ cạnh tranh khác. Nếu như doanh nghiệp có năng lực cốt lõi nhưng không nhận thấy để đầu tư đúng hướng thì rất dễ bị sa đà vào những trào lưu của thị trường và mất đi giá trị cốt lõi của doanh nghiệp. Do vậy, việc chọn đúng năng lực và nhận dạng ra được năng lực lõi của mình là một yếu tố hết sức cần thiết tạo nên sự thành công cho mỗi công ty. Các yếu tố môi trường bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.
Yếu tố tài chính Trong nền kinh tế thị trường sản xuất kinh doanh hàng hóa, doanh nghiệp phải có vốn bằng tiền hay bằng nguồn lực tài chính để thực hiện được hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là nguồn lực quan trọng nhất và chi phối mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều là những đầu tư mang tính chất sinh lời. Đối với việc phát triển năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp một số chỉ tiêu tài chính cơ bản cần được đưa vào xem xét một cách chi tiết bao gồm: 1.
Tỷ số thanh toán (Rc) Một trong những thước đo khả năng thanh toán của một công ty được sử dụng rộng rãi nhất là khả năng thanh toán hiện hành. Tài sản ngắn hạn Tỷ số thanh toán hiện hành Rc = (1) Nợ ngắn hạn 8 Tỷ số này cho thấy công ty có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn nhằm đo lường khả năng trả nợ của công ty. Tỷ số thanh toán nhanh (Rq) Tỷ số thanh toán nhanh được tính toán dựa trên những tài sản ngắn hạn có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, đôi khi chúng được gọi là tài sản có tính thanh khoản. Mà tài sản có tính thanh khoản bao gồm tất cả tài sản ngắn hạn trừ hàng tồn kho.
Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho Tỷ số thanh toán nhanh Rq = (2) Nợ ngắn hạn Tỷ số này cho thấy khả năng thanh toán thực sự của một công ty nhằm xác định khả năng chi trả của công ty đó đối với các khoảng nợ khi chúng đến hạn. Tỷ số dòng tiền từ hoạt động (OCF) Các tỷ số hoạt động đo lường hoạt động kinh doanh của một công ty. Để nâng cao tỷ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết là những tài sản chưa dùng hoặc không dùng không tạo ra thu nhập vì thế công ty cần phải biết cách sử dụng chúng có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi. Tỷ số hoạt động đôi khi còn gọi là tỷ số hiệu quả hoặc tỷ số luân chuyển EBIT* + Khấu hao – Thuế Tỷ số dòng tiền hoạt động OCF = (3) Nợ ngắn hạn (*)EBIT = Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế + Chi phí lãi vay 1.
Chỉ số tiền mặt Tiền mặt + Chứng khoán khả mại Chỉ số tiền mặt= (4) Nợ ngắn hạn Chỉ số tiền mặt cho biết bao nhiêu tiền mặt và các khoản tương đương tiền doanh nghiệp (ở đây là chứng khoán khả mại) đủ để đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn. 9 Nói cách khác nó cho biết, cứ một đồng nợ ngắn hạn thì có bao nhiêu tiền mặt mại đảm bảo chi trả. Yếu tố quy trình nội bộ Quy trình quản lý nội bộ của một công ty bao gồm cơ chế vận hành từ chế độ trách nhiệm, phối hợp, cách thức ra quyết định, các nguyên tắc sử dụng nguồn lực đến các mối quan hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Nếu cơ cấu được coi là phần cứng thì cơ chế chính là phần mềm của tổ chức, được xác định nhằm đảm bảo bộ máy hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả theo đúng định hướng chiến lược.
Hệ thống quy chế nội bộ của một doanh nghiệp bao gồm tổng thể các quy chế, quy trình, quy định và các văn bản mang tính bắt buộc chung trong từng doanh nghiệp, từng lĩnh vực hoạt động hoặt từng hành vi cụ thể.