CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.1 Lợi nhuận của doanh nghiệp.1 Khái niệm và phương pháp xác định Một nền sản xuất chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có tích luỹ. Mà xét về mặt bản chất, tích luỹ là sử dụng một phần của cải xã hội tạo ra để tái đầu tư vào các yếu tố sản xuất nhằm tăng quy mô và năng lực của nền kinh tế. Muốn tích luỹ thì phải có lợi nhuận. Thực tế một thời chúng ta đã không coi trọng lợi nhuận thậm chí coi nó là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản xấu xa.
Nhưng từ khi chúng ta chuyển đổi nền kinh tế từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, lợi nhuận được coi là một tiêu chí quan trọng mà mỗi doanh nghiệp đều phải hướng tới trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Luật doanh nghiệp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 nêu rõ: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện một hoặc một số khâu của quá trình đầu tư từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ với mục tiêu chủ yếu là sinh lời. Như vậy, cái mà một thời mà chúng ta coi không trọng - lợi nhuận đã được pháp luật ngày nay thừa nhận là mục tiêu chủ yếu và là động cơ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vậy lợi nhuận là gì? Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), là một chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động của doanh nghiệp. Từ góc độ của doanh nghiệp, có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí từ các hoạt động SV: Nguyễn Duy Tiến 4 Lớp CQ45/11.04 Luan van Chuyên đề cuối khóa của doanh nghiệp đưa lại. Từ khái niệm trên, xác định lợi nhuận cho một thời kỳ nhất định, người ta căn cứ vào hai yếu tố: Thứ nhất: Thu nhập phát sinh trong một thời kỳ nhất định. Thứ hai : Chi phí phát sinh nhằm đem lại thu nhập trong thời kỳ đó hay nói cách khác chỉ những chi phí phân bổ cho các hoạt động, các nghiệp vụ kinh doanh đã thực hiện được trong kỳ.
Công thức chung để xác định lợi nhuận như sau: Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí Doanh thu là toàn bộ giá trị toàn bộ hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra trong thời kỳ nhất định. Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: doanh thu tiêu thụ sản phẩm và doanh thu hoạt động tài chính. Chi phí là những khoản chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được doanh thu đó. Những khoản chi phí đó bao gồm: • Chi phí vật liệu đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu, khấu hao máy móc thiết bị.
• Chi phí để trả lương cho người lao động nhằm bù đắp chi phí lao động sống cần thiết mà họ bỏ ra trong quá trình sản xuất. • Các khoản để làm nghĩa vụ với Nhà nước, đó là thuế và các khoản phải nộp khác cho nhà nước như thuế tài nguyên, thuế tiêu thu đặc biệt…các khoản này Nhà nước sẽ sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế xã hội như xây dựng cơ sở hạ tầng, bệnh viện, trường học… Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần doanh thu còn lại sau khi bù đắp các chi phí nói trên. Kết cấu lợi nhuận của doanh nghiệp Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và phong phú nhưng bao gồm ba hoạt động chính như sau: Thứ nhất - Hoạt động SXKD Thứ hai - Hoạt động tài chính Thứ ba - Hoạt động khác Xuất phát từ các hoạt động chính, lợi nhuận của doanh nghiệp thông thường đựơc cấu thành bởi ba bộ phân sau: SV: Nguyễn Duy Tiến 5 Lớp CQ45/11.04 Luan van Chuyên đề cuối khóa 1. Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận hoạt động SXKD ( hay lợi nhuận bán hàng) : là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động SXKD và chi phí của hoạt động đó bao gồm toàn bộ sản phẩm, hàng hoá dịch vụ đã thực hiện và thuế phải nộp theo quy định ( nếu có trừ thuế thu nhập doanh nghiệp).
Doanh thu thuần: là toàn bộ số tiền bán thành phẩm, hàng hoá, cung ứng dịch vụ trên thị trường sau khi trừ đi các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại(nếu có chứng từ hợp lệ). Ngoài ra, trong doanh thu còn bao gồm các khoản trợ giá, phụ thu theo quy định của Nhà nước, giá trị sản phẩm, hàng hoá đem biếu tặng hoặc tiêu dùng nội bộ. Các chi phí cho sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ bán ra trong kỳ bao gồm: * Giá vốn hàng bán: phản ánh giá vốn của thành phẩm hàng hóa dịch vụ xuất bán trong kỳ ( với doanh nghiệp sản xuất là giá thành sản xuất của hàng hóa dịch vụ bán ra) * Chi phí bán hàng: Là những chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như chi phí tiền lương, các khoản phụ cấp trả cho nhân viên bán hàng, chi phí hoa hồng đại lý, hoa hồng môi giới, tiếp thị, đóng gói, vận chuyển, bảo quản, chi phí khấu hao phương tiện vận tải, chi phí vật liệu, bao bì, dụng cụ, đồ dùng, các chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí quảng cáo. * Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những chi phí liên quan đến quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và các chi phí chung khác liên quan đến hoạt động của toàn doanh nghiệp như: tiền lương và các khoản phụ cấp trả cho hội đồng quản trị, ban giám đốc và các nhân viên quản lý ở các phòng ban, các khoản chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, khấu hao TSCĐ chung cho toàn doanh nghiệp, công tác phí, chi thưởng sáng kiến.
Từ đó ta có thể khái quát lợi nhuận hoạt động SXKD của doanh nghiệp theo công thức: Lợi nhuận từ Doanh Giá trị Chi phí quản Chi phí hoạt động = thu - vốn hàng - - lý doanh bán hàng SXKD thuần bán nghiệp SV: Nguyễn Duy Tiến 6 Lớp CQ45/11.04 Luan van Chuyên đề cuối khóa Trong đó: Doanh Tổng Các khoản Giá trị Thuế gián thu thu = doanh thu - giảm giá - hàng bán - trong giá bán thuần bán hàng hàng bán bị trả lại (nếu có) 1. Lợi nhuận hoạt động tài chính Lợi nhuận hoạt động tài chính: Là số chênh lệch giữa doanh thu hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳ xác định. Công thức xác định: Lợi nhuận từ Doanh thu hoạt Chi phí hoạt Thuế gián hoạt động tài = - - động tài chính động tài chính thu (nếu có) chính Doanh thu hoạt động tài chính: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong kỳ do các hoạt động tài chính mang lại bao gồm các khoản thu từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, lãi do bán ngoại tệ, lãi từ việc đầu tư vốn ra ngoài công ty. Chi phí hoạt động tài chính: Là chi phí có liên quan đến hoạt động đầu tư vốn, huy động vốn, hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định bao gồm các khoản chủ yếu: chi phí trả tiền lãi vay vốn kinh doanh, chi phí liên quan đến việc doanh nghiệp cho các tổ chức hay doanh nghiệp khác vay vốn.
Lợi nhuận khác Lợi nhuận khác: Là chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí khác phát sinh do các hoạt động như thanh lý, nhượng bán tài sản, thu tiền phạt vi phạm hợp đồng, nhận quà biếu. Công thức xác định: Lợi nhuận Thu nhập Chi phí Thuế gián = - - khác Khác khác thu (nếu có) SV: Nguyễn Duy Tiến 7 Lớp CQ45/11.04 Luan van Chuyên đề cuối khóa Trong đó: Thu nhập khác: Là các khoản thu được trong kỳ do các hoạt động không thường xuyên ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu gồm: tiền thu do nhượng bán, thanh lý TSCĐ, khoản thu từ tiền bảo hiểm được các tổ chức bồi thường khi doanh nghiệp có tham gia bảo hiểm, khoản thu về tiền phạt từ khách hàng do vi phạm hợp đồng kinh tế với doanh nghiệp. Chi phí khác: Là các khoản chi phí có liên quan đến hoạt động kinh doanh khác, chi phí cho việc thu hồi các khoản nợ, chi phí về thu tiền phạt, các chi phí về tiền phạt do vi phạm hợp đồng, chi phí về thanh lý, nhượng bán TSCĐ. Sau khi đã xác định lợi nhuận của các hoạt động nói trên, tổng hợp lại ta được lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp như sau: Lợi nhuận Lợi nhuận Lợi nhuận hoạt Lợi nhuận trước thuế = hoạt động + + động tài chính khác TNDN SXKD Lợi nhuận sau thuế TNDN được xác định như sau: Lợi nhuận Lợi nhuận sau = trước thuế - Thuế TNDN thuế TNDN TNDN Tóm lại: Lợi nhuận là kết quả cuối cùng và cũng là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phán ánh kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp.
Tuy nhiên ta không thể dùng lợi nhuận để đánh giá doanh nghiệp đó kinh doanh tốt hay không tốt cũng như để so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau bởi: Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, có thể là nhân tố chủ quản, có thể là nhân tố khách quan, sự ảnh hưởng đó có thể là cùng chiều hay ngược chiều. Chỉ nhìn vào lợi nhuận ta không thể thấy được lợi nhuận tạo ra là do đâu cũng như mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới lợi nhuận như thế nào. SV: Nguyễn Duy Tiến 8 Lớp CQ45/11.04 Luan van Chuyên đề cuối khóa Các doanh nghiệp khác nhau sẽ có đặc điểm hoạt động kinh doanh, các điều kiện vật chất, thị trường đầu vào, đầu ra khác nhau, quy mô kinh doanh khác nhau.nên không thể dùng chỉ tiêu lợi nhuận để so sánh giữa các doanh nghiệp khác nhau. Do vậy, để đánh giá một cách toàn diện và chính xác hơn về chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngoài chỉ tiêu tuyệt đối “lợi nhuận” ta đi xem xét thêm chỉ tiêu tương đối “tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp”.