Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế, văn hóa và dịch vụ của cả nước, đóng góp khoảng 11% đến 12% GDP toàn thành phố từ hoạt động du lịch trong giai đoạn hoàng kim. Bước sang năm 2002, toàn ngành du lịch Việt Nam ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ với 2,63 triệu lượt khách quốc tế (tăng trưởng 12,3% so với năm 2001) và 12 triệu lượt khách nội địa. Doanh thu toàn xã hội từ du lịch năm 2002 ước đạt mức kỷ lục 23.000 tỷ đồng, trong đó khu vực lưu trú - nhà hàng tăng trưởng 13,6%. Tuy nhiên, bước sang nửa đầu năm 2003, cuộc khủng hoảng dịch bệnh SARS và bất ổn địa chính trị thế giới đã khiến doanh thu toàn ngành sụt giảm 10,8%, riêng lượng khách quốc tế đến thành phố trong 6 tháng đầu năm 2003 giảm 24% (đạt 564.408 lượt) so với cùng kỳ năm 2002.

Thực tiễn này làm bộc lộ nhiều điểm nghẽn căn cơ: thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế sụt giảm liên tục từ 3,7 ngày (năm 1995) xuống còn 2,2 ngày (năm 2002), sản phẩm du lịch nghèo nàn, môi trường đô thị đối mặt với ô nhiễm bụi vượt chuẩn y tế từ 1,3 đến 3,4 lần, cùng sự thiếu hụt trầm trọng đội ngũ hướng dẫn viên các ngôn ngữ hiếm.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là nhận diện toàn diện các nguồn lực tự nhiên - nhân văn, phân tích các cơ hội và nguy cơ từ môi trường vĩ mô, đánh giá năng lực khai thác thị trường khách quốc tế và nội địa, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút dòng khách du lịch đến thành phố định hướng đến năm 2010. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các hoạt động kinh doanh lữ hành, lưu trú, vận chuyển và xúc tiến điểm đến tại địa bàn thành phố từ năm 2000 đến năm 2003, đồng thời liên hệ chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển du lịch quốc gia giai đoạn 2001-2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa Lý thuyết sản phẩm du lịch tổng hợp (Tourism Product Mix) và Mô hình chu kỳ sống của điểm đến du lịch (Destination Life Cycle). Theo quan điểm của Tổ chức Du lịch Thế giới, tài nguyên du lịch cấu thành từ 4 nhóm chính: di sản tự nhiên, di sản nhân văn, thể chế chính trị - pháp lý và hệ thống hạ tầng bổ trợ. Bản chất của sản phẩm du lịch là tổ hợp dịch vụ tổng hợp vô hình bao gồm vận chuyển, lưu trú, ăn uống, giải trí và tham quan; mang đặc tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng, không thể lưu trữ hay di chuyển vị trí địa lý.

Bên cạnh đó, tác giả phân tích tính co giãn của cầu du lịch dưới tác động của các yếu tố kinh tế, biến động tỷ giá hối đoái, dịch bệnh và an ninh chính trị. Khung phân tích mở rộng dựa trên mô hình kinh nghiệm thực tiễn từ hai quốc gia láng giềng:

  • Mô hình kiểm soát sức chứa, gắn kết lữ hành - khách sạn và đào tạo nhân lực quy mô lớn của Thái Lan (đào tạo chuẩn hóa hơn 8.000 cử nhân du lịch mỗi năm tại 128 cơ sở giáo dục).
  • Chiến lược "Du lịch xanh", đa dạng hóa sản phẩm theo chuyên đề và chính sách thị thực linh hoạt của Trung Quốc (tốc độ tăng trưởng 11%/năm, đạt 36,8 triệu lượt khách quốc tế).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 1995–2003 từ Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng cục Du lịch Việt Nam, Hiệp hội Du lịch Nhật Bản và dữ liệu khảo sát từ Liên đoàn Lữ hành Sinh viên Quốc tế trên mẫu 2.300 du khách từ 8 quốc gia.

Về quy mô mẫu nghiên cứu, đề tài tiến hành tổng kiểm kê và phân tích số liệu toàn diện trên 496 doanh nghiệp kinh doanh du lịch, 663 cơ sở lưu trú (quy mô 18.321 phòng, trong đó có 122 khách sạn xếp hạng sao với 8.115 phòng) và 288 doanh nghiệp lữ hành đang hoạt động trên địa bàn thành phố. Phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu được áp dụng để phân tích chuyên sâu các phân khúc thị trường mục tiêu như khách Nhật Bản, Đài Loan, Tây Âu và kiều bào.

Tác giả vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử kết hợp phân tích thống kê mô tả, phương pháp hệ thống, phương pháp chuyên gia và phương pháp dự báo chuỗi thời gian. Việc lựa chọn phương pháp phân tích hệ thống giúp bóc tách mối liên kết tương hỗ giữa hạ tầng giao thông, biểu thuế giá trị gia tăng, quy chế đào tạo nhân lực và năng lực cạnh tranh giá tour của điểm đến.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu thị trường khách quốc tế có sự phân hóa rõ nét về dung lượng và mức độ chi tiêu. Thị trường kiều bào luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và tăng trưởng ổn định; khách Nhật Bản dẫn đầu về mức chi tiêu với 279.000 lượt khách đến Việt Nam năm 2002 (riêng thành phố đón gần 240.000 lượt, chiếm 22,2% tổng lượng khách quốc tế đến địa bàn). Ngược lại, lượng khách đến từ khối Đông Nam Á vào Việt Nam chỉ dừng ở mức 270.000 lượt vào năm 2002, chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với 17 triệu lượt khách nội vùng di chuyển trong toàn khối, cho thấy một thị trường lân cận đầy tiềm năng đang bị bỏ ngỏ.

Thứ hai, thời gian lưu trú trung bình của du khách quốc tế suy giảm đều qua các năm: từ mức 3,7 ngày (năm 1995) giảm xuống 2,6 ngày (năm 2000), 2,4 ngày (năm 2001) và chỉ còn 2,2 ngày (năm 2002). Thành phố đang bị định vị như một trạm trung chuyển quá cảnh ngắn ngày thay vì một điểm đến nghỉ dưỡng hay trải nghiệm văn hóa độc lập. Ngược lại, thời gian lưu trú của khách nội địa có xu hướng tăng nhẹ từ 1,4 ngày lên 1,6 ngày, phản ánh nhu cầu thăm thân nhân, chữa bệnh và mua sắm ngày càng tăng.

Thời gian lưu trú bình quân tại TP.HCM (Đơn vị: Ngày)
Năm 1995: [Khách quốc tế: 3.7] [Khách nội địa: 1.4]
Năm 2000: [Khách quốc tế: 2.6] [Khách nội địa: 1.5]
Năm 2001: [Khách quốc tế: 2.4] [Khách nội địa: 1.5]
Năm 2002: [Khách quốc tế: 2.2] [Khách nội địa: 1.6]

Thứ ba, sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu và trình độ nhân lực hướng dẫn viên. Toàn thành phố có hơn 1.000 người hành nghề hướng dẫn du lịch nhưng chỉ có 413 người được cấp thẻ hành nghề chính thức. Trong đó, có tới 170 hướng dẫn viên tiếng Anh dẫn đến tình trạng dư thừa cục bộ, trong khi hướng dẫn viên tiếng Nhật chỉ có 21 người, tiếng Đức 30 người, hoàn toàn chưa có hướng dẫn viên tiếng Hàn và tiếng Thái dù lượng khách Hàn Quốc đến thành phố đạt tới 84.000 lượt người vào năm 2002.

Thứ tư, nguồn tài nguyên văn hóa và môi trường đô thị chưa được khai thác chiều sâu. Mật độ di tích lịch sử cấp quốc gia của thành phố rất khiêm tốn với 47 di tích (đạt 2,24 di tích/100 km2), kém xa so với Hà Nội (43 di tích/km2). Môi trường đô thị chịu áp lực lớn từ tiếng ồn thường xuyên vượt ngưỡng cho phép (từ 90 dBA đến 99,9 dBA) và nồng độ bụi vượt chuẩn quốc tế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến năng lực cạnh tranh giá tour của thành phố kém hơn các điểm đến như Bangkok hay Singapore bắt nguồn từ sự thiếu liên kết giữa các đơn vị hàng không, khách sạn và công ty lữ hành. Giá vé máy bay cao, giá thuê phòng biến động thất thường trong mùa cao điểm cùng gánh nặng thuế giá trị gia tăng 10% trọn gói (không được khấu trừ vé tham quan và chi phí vận chuyển đặc thù) đã đẩy chi phí tour lên mức cao nhất khu vực.

Sự phát triển tự phát của hơn 3.000 doanh nghiệp có chức năng lữ hành nhưng chỉ khoảng 10% đăng ký chính thức qua Sở Du lịch đã tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh, hiện tượng ép giá, cắt giảm lịch trình và trục lợi hoa hồng bất hợp pháp từ các điểm bán hàng lưu niệm. Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn qua biểu đồ tương quan giữa tốc độ tăng doanh thu và chi tiêu bình quân của người dân đô thị (chỉ chiếm từ 3,4% đến 4,2% thu nhập cho vui chơi giải trí) khẳng định du lịch thành phố thiếu hẳn các khu phức hợp mua sắm, giải trí đêm quy mô để kích cầu chi tiêu tại chỗ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tái lập liên minh chuỗi giá trị và kiểm soát giá tour: Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì ký kết thỏa thuận liên minh chiến lược giữa Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, Hiệp hội Khách sạn và các công ty lữ hành chủ lực. Thiết lập khung giá trần minh bạch cho dịch vụ lưu trú trong mùa lễ hội, thực hiện chính sách trợ giá chéo để giảm giá thành tour từ 10% đến 15% trước năm 2006, chấm dứt tình trạng nâng giá phòng đơn phương làm tổn hại uy tín điểm đến.

  2. Chuẩn hóa và đào tạo đột phá đội ngũ hướng dẫn viên ngoại ngữ hiếm: Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Tổng cục Du lịch cấp phép cho các trường đại học chuyên ngành mở các khóa đào tạo ngắn hạn chuyển tiếp nghiệp vụ du lịch cho sinh viên khoa ngoại ngữ tiếng Nhật, Hàn Quốc, Đức và Thái Lan. Mục tiêu đến năm 2008 cấp thẻ hành nghề mới cho ít nhất 500 hướng dẫn viên ngoại ngữ hiếm, chấm dứt hoàn toàn tình trạng các đoàn khách quốc tế phải sử dụng hướng dẫn viên chui không được kiểm định chuyên môn.

  3. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch sinh thái và phát triển kinh tế ban đêm: Đẩy nhanh tiến độ thi công dự án cảng du lịch chuyên dụng tại Quận 7 phục vụ các tuyến tàu du lịch biển và đường sông nội đô; quy hoạch tuyến du lịch sinh thái sông nước kết nối trung tâm thành phố với Căn cứ Rừng Sác - Cần Giờ và Địa đạo Bến Dược - Củ Chi. Xây dựng các khu phố ẩm thực, trung tâm biểu diễn nghệ thuật truyền thống và dịch vụ mua sắm miễn thuế hoạt động đến 24 giờ tại Quận 1 và Quận 5 nhằm nâng thời gian lưu trú bình quân lên mức 3,5 ngày vào năm 2010.

  4. Cải cách cơ chế thuế và chính sách thị thực thu hút đầu tư: Kiến nghị Bộ Tài chính điều chỉnh phương pháp tính thuế giá trị gia tăng cho ngành lữ hành theo hướng chỉ thu trên phần giá trị dịch vụ gia tăng thực tế, cho phép khấu trừ chi phí vé tham quan danh lam thắng cảnh và giảm thuế nhập khẩu xe chở khách du lịch từ 35 chỗ trở lên. Mở rộng cơ chế miễn thị thực đơn phương cho các thị trường nguồn có khả năng chi trả cao như Pháp, Đức, Hàn Quốc theo bài học thành công từ chính sách miễn visa cho khách Nhật Bản.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch các tỉnh, thành): Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn xác đáng để xây dựng quy hoạch không gian du lịch vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thiết kế các chương trình kích cầu sau khủng hoảng và hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động lữ hành trước thềm ban hành Luật Du lịch.

  2. Ban lãnh đạo doanh nghiệp lữ hành và cơ sở kinh doanh lưu trú: Nguồn tham khảo giá trị về chiến lược phân khúc thị trường, phương pháp định giá gói dịch vụ du lịch, kinh nghiệm thiết kế tour hội nghị MICE, tour chuyên đề sinh thái và giải pháp xây dựng liên minh kích cầu dịch vụ đồng bộ.

  3. Các cơ sở đào tạo, trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành Du lịch và Quản trị kinh doanh: Đóng vai trò là học liệu thực chứng phong phú phục vụ giảng dạy các môn Quản trị Điểm đến, Kinh tế Du lịch, Quản trị Lữ hành; đồng thời chỉ rõ khoảng cách giữa đào tạo lý thuyết hàn lâm và yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp thực tế.

  4. Học viên cao học và sinh viên thực hiện đề tài nghiên cứu kinh tế dịch vụ: Tài liệu mẫu mực về phương pháp luận xử lý số liệu thống kê thứ cấp đa nguồn, phương pháp đánh giá định tính kết hợp định lượng và cách thức chuyển hóa kết quả phân tích thành hệ thống giải pháp quản trị mang tính khả thi cao.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao thời gian lưu trú của khách quốc tế tại TP.HCM trong giai đoạn 1995-2002 liên tục sụt giảm?

Khách quốc tế giảm thời gian lưu trú từ 3,7 ngày (năm 1995) xuống 2,2 ngày (năm 2002) do thành phố thiếu các sản phẩm du lịch đặc sắc, dịch vụ giải trí về đêm nghèo nàn và mật độ di tích lịch sử khiêm tốn (chỉ 47 di tích cấp quốc gia). Hầu hết du khách chỉ xem thành phố là điểm trung chuyển quá cảnh trước khi chuyển tiếp tới các điểm du lịch nghỉ dưỡng như Nha Trang, Huế hay Vịnh Hạ Long.

Cuộc khủng hoảng SARS đầu năm 2003 đã tác động cụ thể ra sao đến ngành du lịch thành phố?

Đại dịch SARS khiến doanh thu toàn ngành du lịch thành phố trong 6 tháng đầu năm 2003 ước đạt 1.950 tỷ đồng, sụt giảm 20% so với cùng kỳ năm 2002 và chỉ hoàn thành 32% kế hoạch cả năm. Lượng khách quốc tế trong quý II/2003 giảm kỷ lục tới 63%, kéo công suất sử dụng phòng lưu trú toàn đô thị xuống mức 44,2% (giảm 12,5% so với cùng kỳ).

Điểm nghẽn lớn nhất trong công tác phát triển nhân lực hướng dẫn viên du lịch tại thành phố là gì?

Điểm nghẽn nghiêm trọng nhất là cơ cấu ngoại ngữ bị lệch pha trầm trọng: trong 413 hướng dẫn viên được cấp thẻ thì có tới 170 người thuộc nhóm tiếng Anh, trong khi tiếng Nhật chỉ có 21 người và hoàn toàn trắng hướng dẫn viên tiếng Hàn, tiếng Thái. Thực trạng này do quy chế đào tạo ban hành chậm và sự thiếu liên kết giữa các cơ sở đào tạo ngoại ngữ với doanh nghiệp lữ hành.

Luận văn đã đúc kết được những bài học kinh nghiệm cốt lõi nào từ ngành du lịch Thái Lan?

Thái Lan thành công nhờ tính chuyên nghiệp cao trong liên kết "Sân bay - Khách sạn - Lữ hành", sự phối hợp chặt chẽ giữa cảnh sát du lịch với cộng đồng địa phương để bảo vệ an toàn cho du khách, cùng hệ thống 128 cơ sở đào tạo chuẩn hóa hàng ngàn nhân lực mỗi năm. Các chính sách giảm thuế, trợ giá hàng hóa thiết yếu giúp họ duy trì mức giá tour cạnh tranh vượt trội so với khu vực.

Chính sách thuế giá trị gia tăng chưa phù hợp đã gây cản trở doanh nghiệp lữ hành như thế nào?

Doanh nghiệp lữ hành phải chịu mức thuế suất 10% trên tổng giá trị tour trọn gói nhưng không được khấu trừ thuế đầu vào cho các khoản chi phí hợp lệ như vé tham quan, ăn uống tại cơ sở kinh doanh cá thể hay cước vận chuyển đường bộ (chỉ chịu thuế 5%). Sự bất cập này làm tăng giá thành tour, đẩy mức phí tour tại Việt Nam lên cao nhất khối ASEAN và làm suy giảm lợi nhuận của doanh nghiệp lữ hành chân chính.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kinh tế du lịch, chỉ rõ đặc tính tổng hợp, tính không thể lưu trữ và độ nhạy cảm cao của sản phẩm dịch vụ trước các biến động khủng hoảng kinh tế và dịch bệnh.
  • Phân tích sắc bén thực trạng du lịch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1995–2003, chỉ ra nghịch lý tăng trưởng doanh thu nhưng thời gian lưu trú sụt giảm nghiêm trọng (chỉ đạt 2,2 ngày vào năm 2002) và sự mất cân đối nhân lực ngoại ngữ hiếm.
  • Đúc rút thành công bài học quản trị điểm đến, tiếp thị quốc tế và chính sách kích cầu từ các mô hình phát triển du lịch bài bản của Thái Lan và Trung Quốc.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ mang tính thực tiễn cao: tái cấu trúc chuỗi cung ứng dịch vụ, chuẩn hóa đào tạo hướng dẫn viên, phát triển du lịch sinh thái đường sông và cải cách chính sách thuế - thị thực.
  • Xác lập định hướng phát triển bền vững đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm du lịch đa chức năng, kết hợp thương mại, hội nghị MICE và văn hóa truyền thống hàng đầu khu vực đến năm 2010.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là cung cấp khung giải pháp quản trị điểm đến gắn liền với tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và nhân lực trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp lữ hành hãy khai thác ngay nguồn tư liệu thực chứng này để hoàn thiện chiến lược kinh doanh và quy hoạch sản phẩm du lịch hiệu quả!