CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động thanh toán quốc tế. Khái niệm thanh toán quốc tế. Khi các quốc gia tăng cường mạnh mẽ hoạt động trao đổi quốc tế, các hoạt động này đã làm phát sinh nhu cầu chi trả, thanh toán hàng hóa và dịch vụ, do đó hoạt động TTQT được hình thành và phát triển để vượt qua những rào cản về sự khác biệt trong loại tiền tệ được sử dụng, tập quán kinh doanh và so sánh giá cả giữa các nước.
Mặc dù, hoạt động TTQT đã ra đời từ lâu, nhưng mới chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 20 khi mà khối lượng mua bán, đầu tư vào thương mại quốc tế và chuyển tiền quốc tế ngày càng gia tăng. Do đó, các kênh thanh toán cho việc mua bán hàng hóa trong lĩnh vực ngoại thương cũng trở nên đa dạng hơn, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho việc giao dịch giữa các đối tác trong kinh doanh, bên cạnh đó làm cho khối lượng các giao dịch thanh toán qua ngân hàng cũng tăng theo. Thanh toán quốc tế được định nghĩa như sau: Trong cuốn Giáo trình Thanh toán quốc tế (2002), PGS Trầm Thị Xuân Hương cho rằng: “Thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các khoản thi chi tiền tệ quốc gia thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau”. Trong cuốn Giáo trình Thanh toán quốc tế trong ngoại thương, GS.NGƯT Đinh Xuân Trình (2006) cho rằng: “Thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa vụ 8 Luan van tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước”.
Các định nghĩa trên cho thấy hoạt động TTQT diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch thương mại, tài trợ, đầu tư và hợp tác quốc tế thông qua mạng lưới NHTM trên thế giới. Hoạt động thanh toán giữa các nước đối tác với nhau đều được tiến hành thông qua ngân hàng trung gian và không dùng tiền mặt. Do vậy, hoạt động TTQT hiểu một cách đơn giản có bản chất chính là nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Chúng được hình thành và phát triển trên cơ sở các hợp đồng ngoại thương và các trao đổi tiền tệ quốc tế.
TTQT được thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, đồng thời nó cũng bị chi phối bởi luật pháp,các chính sách kinh tế, chính sách ngoại thương và chính sách ngoại hối của các quốc gia tham gia trong thanh toán. Các phương thức thanh toán dùng trong thương mại quốc tế. Có nhiều phương thức TTQT dựa theo các tính chất thường xuyên hay gián đoạn, sự tin tưởng lẫn nhau giữa các bên đối tác, các thỏa thuận liên quan đến việc yêu cầu kiểm soát giao nhận hàng hóa và trả tiền, tính chất quan trọng của các loại hàng hóa giao dịch, tình hình tài chính và khả năng thanh toán của người mua,…tất cả đều ảnh hưởng đến viêc áp dụng hình thức thanh toán thích hợp. Mặc dù có nhiều hình thức thanh toán để đáp ứng với nhu cầu của các bên nhưng tất cả đều dựa trên nguyên tắc chung là an toàn, chính xác, và đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan.
Bên cạnh đó, TTQT được biết đến là hoạt động vô cùng quan trọng để hoàn tất hợp đồng mua bán, hợp đồng dịch vụ giữa các bên. Nếu một trong hai bên không đồng ý tiến hành thanh toán thì mối quan hệ ngoại thương không được hình thành. Do đó, để hoàn tất quá trình mua bán này thì bắt buộc các bên phải sử dụng đến các phương thức TTQT. Tuy nhiên, trong quá trình đàm phán về phương thức TTQT, các bên tham gia đều cố gắng thỏa thuận điều kiện thanh toán có lợi 9 Luan van cho mình.
Do đó, có thể bên bán (xuất khẩu) hoặc bên mua (nhập khẩu) sẽ gặp phải một số rủi ro nhất định khi lựa chọn các phương thức TTQT. Chính vì thế để hạn chế những rủi ro cũng như đáp ứng lại với nhu cầu của cả người mua lẫn người bán trong hoạt động thương mại quốc tế sẽ có các phương thức thanh toán như: ❖ Các phương thức thanh toán không kèm chứng từ: - Phương thức chuyển tiền (Remittance): là phương thức mà trong đó khách hàng (người yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng quy định. - Phương thức ghi sổ (Open Account): là phương thưc trong đó quy định rằng sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quy định trong hợp đồng cơ sở, người ghi sổ sẽ mở một quyển sổ cái để ghi nợ người bị ghi sổ bằng một đơn vị tiền tệ nhất định và đến từng định kì nhất định do hai bên thỏa thuận (tháng, quý, năm) người bị ghi sổ sẽ sử dụng phương thức chuyển tiền để thanh toán cho người ghi sổ. - Phương thức nhờ thu trơn (Clean collection): là phương thức thanh toán mà trong đó người có các khoản tiền phải thu từ các công cụ tài chính hay tín dụng nhưng không thể tự mình thu được, cho nên phải ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ đó với điều kiện là việc chuyển giao chứng từ thương mại không phụ thuộc vào việc người trả tiền có thanh toán hay không.
❖ Các phương thức thanh toán kèm chứng từ phi thương mại: - Phương thức bảo lãnh theo yêu cầu: là phương thức trong đó bất cứ một sự cam kết nào của trung gian tài chính, của pháp nhân hay thể nhân bằng văn bản là sẽ thanh toán cho người thụ hưởng khi xuất trình một chứng từ yêu cầu thanh toán phù hợp với các điều kiện và điều khoản quy định trong cam kết đó. - Phương thức tín dụng dự phòng (Standby letter of credit): là cam kết không thể hủy ngang, độc lập, bằng văn bản và ràng buộc khi được phát hành. Trong đó 10 Luan van người phát hành cam kết với người hưởng lợi thanh toán chứng từ xuất trình trên bề mặt phù hợp với các điều khoản điều kiện của thư tín dụng dự phòng theo đúng các quy tắc và người phát hành phải thanh toán chứng từ xuất trình bằng việc chuyển số tiền theo phương thức trả tiền ngay, hoặc chấp nhận hối phiếu của người hưởng,…hoặc cam kết trả tiền sau hoặc chiết khấu. ❖ Các phương thức thanh toán kèm chứng từ thương mại: - Phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection): là một phương thức thanh toán mà trong đó người có các khoản tiền phải ghi trên các công cụ thanh toán nhưng không thể tự mình thu được từ người bị ký phát mà phải ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ thanh toán với điều kiện là sẽ giao chứng từ thương mại nếu người bị ký phát thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán hoặc thực hiện các điều kiện đã quy định, ngược lại thì không giao chứng từ thương mại.
- Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Documentary Credit): là một sự thỏa thuận trong đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu đòi nợ do người này chính phát trong phạm vi số tiền đó khi người này thực hiện việc xuất trình phù hợp. - Phương thức thanh toán thư ủy thác mua (Authority To Purchase-A/P): lả một phương thức mà trong đó ngân hàng nước người nhập khẩu theo yêu cầu của người nhập khẩu viết đơn yêu cầu ngân hàng đại lý ở nước xuất khẩu phát hành một A/P cam kết sẽ mua hối phiếu của người xuất khẩu ký phát với điều kiện chứng từ xuất trình phù hợp với các điều kiện đặt ra trong A/P và phải được đại diện của nước ngoài nhập khẩu đóng ở nước người xuất khẩu xác nhận thanh toán. Điều kiện thanh toán quy định trong hợp đồng thương mại quốc tế. Điều kiện tiền tệ Trong lịch sử phát triển thanh toán quốc tế giữa các quốc gia, tiền tệ tham gia vào hoạt động thanh toán từ các hình thức nguyên thủy của tiền tệ như súc vật, hàng hóa tơ lụa, bạc, vàng đến các loại tiền tệ tài khoản của các hiệp định tiền tệ của các tổ chức kinh tế và tài chính quốc tế các hiệp định thanh toán đa phương, song phương ký kết giữa các chính phủ từ cơ chế thanh toán bằng tiền mặt đến cơ chế thanh toán bù trừ giữa các quốc gia từ phương tiện thanh toán bằng thư đến phương thức thanh toán bằng điện tử ESP, CHIPS hoặc SWIFT.
Nhìn chung, căn cứ vào mục đích sử dụng tiền tệ trong thanh toán có thể chia ra làm 2 loại là đồng tiền tính toán và thanh toán. Đồng tiền được lựa chọn làm đồng tiền tính toán phải là đồng tiền có tính thông dụng trong giao dịch và phải có giá trị tương đối ổn định hay còn gọi là đồng tiền mạnh. Bên cạnh đó việc sử dụng đồng tiền thanh toán phụ thuộc vào các yếu tố như vị thế, tập quán,.Trong thực tiễn người ta có thể sử dụng một đồng tiền đóng vai trò vừa là tiền tính toán vừa là tiền thanh toán. Điều kiện công cụ thanh toán Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá và kinh tế tiền tệ, các công cụ thanh toán đã hình thành và ngày càng phát triển đa dạng, phong phú, tính hữu ích của nó ngày càng cao.
Mỗi công cụ thanh toán ra đời là sản phẩm riêng có của các quan hệ tín dụng tương ứng. Có rất nhiều loại công cụ thanh toán phát sinh dựa trên các quan hệ tín dụng cơ sở: - Quan hệ tín dụng thương mại sản sinh ra công cụ thương phiếu (Commercial bill) gồm có Hối phiếu đòi nợ (Bill of Exchange) và hối phiếu nhận nợ (Promissory Note). 12 Luan van - Quan hệ tín dụng ngân hàng sản sinh ra các công cụ tín dụng ngân hàng như hối phiếu ngân hàng (Bank draft), kỳ phiếu ngân hàng (Bank bond), séc (Check), chứng chỉ tiền gửi (Certificate of Deposit), thư tín dụng (Letter of Credit), thư bảo lãnh (Letter of Guarantee), thư tín dụng dự phòng (Standby L/C), biên lai tín thác (Trust Receipt), thẻ ngân hàng (Bank Card).