Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 1. Cơ sở lý luận về nhập khẩu 1. Khái niệm Về khái niệm hàng hóa, Theo Khoản 1 Điều 4 Luật giá 2012 quy định, hàng hóa là tài sản có thể trao đổi, mua, bán trên thị trường, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người, bao gồm các loại động sản và bất động sản.
Theo Khoản 6 Điều 4 Luật hải quan 2014 thì hàng hóa bao gồm động sản có tên gọi và mã số theo danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc được lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan. Từ những quy định và luận giải trên, có thể hiểu, hàng hóa là một khái niệm đa dạng và được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Vì vậy, khi tiếp cận khái niệm về hàng hóa phải đáp ứng được các tiêu chí như về tên gọi, mã số, tài sản có thể lưu thông trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu của con người trong xã hội. Về khái niệm nhập khẩu và nhập khẩu hàng hóa có nhiều có nhiều cách diễn đạt khác nhau.
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng trong hoạt động kinh doanh mang yếu tố nước ngoài, là một trong hai hoạt động cơ bản cấu thành hoạt động ngoại thương. Có thể hiểu nhập khẩu là quá trình mua hàng hóa và dịch vụ từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu trong nước và tái nhập khẩu nhằm mục đích thu lợi nhuận. Giáo trình kinh doanh quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội). Theo Khoản 2 Điều 28 Luật thương mại 2005 thì “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.
Theo Từ điển Tiếng Việt, nhập khẩu là đưa hàng hoá hay tư bản của nước ngoài vào nước mình; phân biệt với xuất khẩu. Như vậy, có thể hiểu nhập khẩu là một hoạt động mà hàng hóa hay tư bản được đưa vào lãnh thổ một quốc gia nào khác và có yếu tố nước ngoài. Nói tóm lại, có thể hiểu nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ là môi giới. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là 4 Luan van một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài.
Đặc điểm Đặc điểm của nhập khẩu sẽ phức tạp hơn hoạt động kinh doanh buôn bán trong nước vì tính chất nhập khẩu là hoạt động buôn bán giữa các quốc gia cụ thể: Thứ nhất, nhập khẩu là quá trình giao dịch buôn bán giữa những người mang quốc tịch khác nhau tại các quốc gia khác nhau nên có quy trình, thủ tục, thời gian hay thị trường tiếp cận rộng và không giống nhau. Vì vậy, việc kiểm soát sẽ khó và các phương thức nhập khẩu trên thị trường quốc tế cũng sẽ rất đa dạng: giao dịch trực tiếp thông qua các mối quan hệ, giao dịch qua các trung gian giới thiệu, giao dịch tại hội chợ triển lãm và qua thông tin quảng cáo,… đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh, phương thức thanh toán đa dạng: thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng, tín dụng chứng từ, thanh toán nhờ thu,… hàng hóa thường được vận chuyển qua các cửa khẩu của các quốc gia khác nhau. Thứ hai, hoạt động nhập khẩu có liên quan đến việc lưu thông hàng hóa, dịch vụ giữa nhiều quốc gia. Do đó, nhập khẩu sẽ bị chi phối bởi các tập quán thương mại quốc tế, các điều ước quốc tế hay luật tại các quốc gia nội địa.
Bởi tính chất đa dạng, phong phú qua cách thức nhập khẩu nên hoạt động này sẽ được Nhà nước quản lý chặt chẽ và phải thông qua các chính sách về thuế, hạn ngạch hay phụ thu,… Ngoài ra, nhập khẩu còn áp dụng các văn bản pháp luật có liên quan đến xuất xứ hàng hóa, quy định danh mục được phép nhập khẩu. Các hoạt động nhập khẩu sẽ phải thông qua hợp đồng ngoại thương. Thứ ba, trong quá trình thực hiện nhập khẩu không thể tránh khỏi việc xảy ra các rủi ro khi nhập khẩu nên để tránh các vấn đề đó xuống mức thấp nhất thì đơn vị nhập khẩu có thể mua hợp đồng bảo hiểm tương ứng. Chi phí của bảo hiểm sẽ do bên mua hoặc bên bán chịu tùy thuộc vào những điều khoản đã được thỏa thuận ở hợp đồng mua bán đã ký kết.
Thứ tư, việc kinh doanh nhập khẩu sẽ phụ thuộc nhiều vào nội lực của doanh nghiệp sẵn có về kiến thức kinh doanh, trình độ quản lý, trình độ nghiệp vụ ngoại thương hay mức độ nhanh nhạy trong việc nắm bắt thông tin,… Việc thực hiện các quy trình nhập khẩu có tốt hay không phụ thuộc nhiều vào các yếu tố trên, chủ yếu là ở khả năng của doanh nghiệp. Phân loại 5 Luan van Nhập khẩu trực tiếp Đối với hình thức này thì người mua và người bán hàng hóa trực tiếp giao dịch với nhau, quá trình mua và bán không hề ràng buộc lẫn nhau. Bên mua có thể mua mà không bán và ngược lại. Nhập khẩu trực tiếp được tiến hành khá đơn giản.
Trong đó, bên nhập khẩu muốn ký kết được hợp đồng kinh doanh nhập khẩu thì phải nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác phù hợp, ký kết và thực hiện hợp đồng, tự bỏ vốn, chịu mọi rủi ro và chi phí trong giao dịch,… Ưu điểm của nhập khẩu trực tiếp là: trực tiếp tiếp xúc với thị trường nước ngoài. Do vậy, có thể nắm bắt được diễn biến tình hình thị trường và nhu cầu thị trường từ đó có phương án thích hợp cho từng thị trường cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu. Ngoài ra, bên nhập khẩu cũng sẽ ứng phó được với những diễn biến mới trên thị trường. Nhược điểm của nhập khẩu trực tiếp là: khoảng cách giữa người mua và người bán rất xa nên có thể có những rủi ro không lường trước được, ví dụ như rủi ro xảy ra do công ty chưa am hiểu sản phẩm, thị trường, đối tác.
Chi phí tốn kém, chỉ thực hiện được khi có đủ số lượng hàng lớn. Đặc biệt, bên nhập khẩu phải có kiến thức trên thị trường thế giới, nếu không sẽ gặp nhiều bất trắc và khó khăn. Nhập khẩu ủy thác Nhập khẩu ủy thác được hiểu là hoạt động dịch vụ thương mại theo đó chủ hàng thuê một đơn vị trung gian thay mặt và đứng tên nhập khẩu hàng hóa bằng hợp đồng ủy thác. Nói một cách dễ hiểu hơn, các doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập khẩu một loại hàng hóa nào đó, tuy nhiên lại không được phép nhập khẩu trực tiếp, hoặc gặp khó khăn trong quá trình tìm kiếm, giao dịch với đối tác nước ngoài thì sẽ thuê những các doanh nghiệp có chức năng thương mại quốc tế tiến hành nhập khẩu cho mình.
Trách nhiệm của bên nhận ủy thác là phải cung cấp thông tin về thị trường, giá cả, khách hàng, những điều kiện có liên quan đến đơn hàng được ủy thác, ký kết hợp đồng và thực hiện các thủ tục liên quan đến nhập khẩu. Với hình thức này, doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ nhập khẩu ủy thác không phải bỏ vốn, không cần xin hạn ngạch cũng như không phải tìm kiếm khách hàng, giá cả,… Đổi lại bên ủy thác sẽ trả phí dịch vụ cho bên nhận ủy thác nhập khẩu. 6 Luan van Ưu điểm của nhập khẩu ủy thác đó chính là: công ty nhập khẩu vẫn có thể bán được hàng hóa qua biên giới quốc gia ngay cả khi chưa có đủ kinh nghiệm về hoạt động nhập khẩu. Việc thuê bên thứ ba độc lập chuyên hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh nhập khẩu không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, nhân lực và vật lực mà còn giảm thiểu được rủi ro liên quan đến hoạt động nhập khẩu.
Nhược điểm của nhập khẩu ủy thác là: bên ủy thác phải trả phí khi sử dụng dịch vụ ủy thác nhập khẩu. Bên ủy thác thiếu chủ động và bị phụ thuộc do phải làm việc thông qua trung gian. Bên cạnh đó, bên ủy thác có thể gặp rủi ro liên quan đến thông tin của đối tác cũng như tình hình hàng hóa được nhập khẩu. Hoặc có thể xảy ra trường hợp bên được ủy thác hợp tác trực tiếp với bên xuất khẩu.
Vai trò Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng trong thương mại quốc tế, nó tác động trực tiếp đến tình hình sản xuất và đời sống nhân dân (thông qua tiêu dùng hàng nhập khẩu). Thông qua nhập khẩu sẽ tăng cường được cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại cho quá trình sản xuất, và người dân được tiêu dùng các sản phẩm mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu. Hoạt động nhập khẩu có những vai trò chủ yếu sau đây: Đối với nền kinh tế thế giới Thứ nhất, thông qua hoạt động nhập khẩu các quốc gia trên thế giới có điều kiện hiểu rõ về phong tục tập quán, văn hoá, chính trị lẫn nhau. Qua đó, sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập hoá nền kinh tế giữa các nước, khai thác triệt để về lợi thế so sánh của nước mình và sử dụng các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý hơn.
Thứ hai, hoạt động nhập khẩu sẽ kích thích việc sản xuất và tiêu dùng ở mỗi nước phát triển hơn. Làm cho khối lượng hàng hoá và nhu cầu trong nền kinh tế thế giới tăng lên, từ đó mức sống của người dân được nâng cao. Từ hoạt động nhập khẩu sẽ giúp cho các nước kém phát triển hoặc đang phát triển có cơ hội học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong quản lý, tiếp thu được các thành tựu khoa học kỹ thuật. Phục vụ cho công cuộc hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước.
Thứ ba, hoạt động nhập khẩu sẽ giúp cho quá trình liên kết kinh tế giữa các quốc gia, các khu vực được đẩy mạnh hơn. Làm cho quá trình phân công lao động quốc tế diễn ra trên toàn thế giới. Nâng cao uy tín của mỗi quốc gia thành viên. Các hoạt động đối ngoại khác như bảo hiểm, du lịch, dịch vụ thương mại cũng phát triển nhanh chóng.