CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Tổng quan về thiên tai và biến đổi khí hậu Thiên tai là hiệu ứng của một tai biến tự nhiên (ví dụ lũ lụt, bão, phun trào núi lửa, động đất, hay lở đất, …) có thể ảnh hưởng tới môi trường, và dẫn tới những thiệt hại về tài chính, môi trường và/hay con người. Thiệt hại do thảm hoạ tự nhiên phụ thuộc vào khả năng chống đỡ và phục hồi của con người với thảm hoạ. Sự hiểu biết này được tập trung trong công thức: “thảm hoạ xảy ra khi rủi ro xuất hiện cùng sự dễ bị tổn thương”. Một rủi ro thiên nhiên vì thế không thể dẫn tới thảm hoạ tự nhiên tại các khu vực không dễ bị tổn thương, ví dụ những trận động đất lớn tại các khu vực không có người ở.
Thuật ngữ tự nhiên do vậy đã bị tranh cãi bởi các sự kiện đơn giản không phải là rủi ro hay thảm hoạ nếu không liên quan tới con người. Khí hậu của trái đất luôn luôn thay đổi. Trước đây, sự thay đổi này mang tính tự nhiên. Kể từ đầu thế kỷ 19 thuật ngữ biến đổi khí hậu bắt đầu được sử dụng khi nói đến những sự thay đổi khí hậu được so sánh tại thời điểm nói đến và những dự báo trong vòng khoảng 80 năm sau đó mà nguyên nhân thay đổi chủ yếu là do những hoạt động của con người gây ra hơn là những thay đổi tự nhiên trong bầu khí quyển.
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi trạng thái của khí hậu có thể nhận dạng được bằng việc đánh giá thay đổi của trị số trung bình và/hoặc các thay đổi thuộc tính của nó và tiếp tục tiếp diễn theo thời gian dài (tính từ thập kỷ hoặc hơn). Đối với định nghĩa của IPCC, BĐKH là bất cứ sự thay đổi nào về khí hậu theo thời gian, dù là sự thay đổi do biến đổi tự nhiên hay là do tác động của con người. Theo Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC), BĐKH là do các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu, làm tăng thêm sự BĐKH tự nhiên. Tuy có sự khác biệt trong định nghĩa về khái niệm BĐKH, nhưng các số liệu quan trắc là các bằng chứng cho thấy sự gia tăng đáng kể về nhiệt độ không khí toàn cầu và nhiệt độ đại dương từ năm 1850 trở lại đây.
Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu trên thế giới 1. Tình hình thiên tai trên thế giới: Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) đã nghiên cứu số liệu từ hơn 11.000 thảm họa thiên nhiên trong nửa thế kỷ qua. Những năm 1970, trung bình mỗi năm có hơn 700 hiện tượng thiên tai, trong khi từ năm 2000 đến 2009, mỗi năm ghi nhận hơn 3.500 vụ, tương đương với khoảng 10 vụ mỗi ngày. Trong những năm 2010, trung bình mỗi năm ghi nhận 3.165 vụ thiên tai.
Số người thiệt mạng trong những năm gần đây có giảm so với thời kỳ cách đây 50 năm. Trong những năm 1970 và 1980, thảm họa tự nhiên giết chết trung bình khoảng 170 người mỗi ngày trên toàn thế giới, trong khi con số này vào năm 2010 chỉ là 40 người. Các hiện tượng như bão, lũ lụt và hạn hán là nguyên nhân gây ra nhiều ca tử vong và thiệt hại nhất trong 50 năm qua. Đáng chú ý, hơn 90% trong số khoảng 2 triệu người thiệt mạng vì thiên tai được Liên hợp quốc xác định là ở các nước đang phát triển trong khi 60% thiệt hại kinh tế lại được ghi nhận ở các nước giàu có hơn.
Nửa thế kỷ trước, các thảm họa thời tiết gây thiệt hại toàn cầu khoảng 175 triệu USD mỗi năm. Con số này tăng lên trung bình 1,38 tỷ USD trong những năm 2010. Mức độ tàn phá của các hiện tượng thời tiết cực đoan tăng dần theo thời gian là do ngày càng có nhiều người chuyển đến những khu vực có nguy cơ cao trong khi biến đổi khí hậu đang khiến thiên tai trở nên khốc liệt và diễn ra thường xuyên hơn. Biểu hiện của Biến đổi khí hậu - Xu thế nhiệt độ: Nhiệt độ bề mặt toàn cầu quan trắc được giai đoạn 2005-2016 đã tăng khoảng 0,87°C (0,76÷0,98°C) so với thời kì tiền công nghiệp (1850-1900).
Đặc biệt trong 10 năm gần đây (2009-2018), mức tăng còn nhanh hơn, đạt 1,06°C (0,95÷1,17°C). Từ năm 1975 trở lại đây tốc độ tăng trung bình của nhiệt độ bề mặt toàn cầu 0,15÷0,2°C/thập kỷ, riêng bốn thập kỷ gần đây, nhiệt độ bề mặt toàn cầu được ghi nhận là cao nhất trong khoảng thời gian từ 1850 đến nay. Theo công bố của Tổ chức Khí tượng Thế giới năm 2020, những năm nóng kỷ lục liên tiếp đều là những năm gần đây, đặc biệt là những năm trong thập kỷ thứ 2 của thế kỷ 21. Giai đoạn 2010-2019 được ghi nhận là thập kỷ nóng nhất kể từ thời kỳ tiền công 2 nghiệp và 5 năm gần đây được ghi nhận là các năm có nhiệt độ cao nhất trong 140 năm qua.
Trong đó, năm 2019 được ghi nhận là năm thứ 5 liên tiếp nóng nhất trong lịch sử khí hậu, với mức tăng nhiệt độ trung bình năm toàn cầu đạt 1,1°C so với thời kỳ tiền công nghiệp. - Xu thế lượng mưa: Lượng mưa có xu thế tăng ở phần lớn các khu vực trên toàn cầu trong thời kỳ 1901-2018. Trong đó, xu thế tăng/giảm của lượng mưa giai đoạn trước 1950 có mức độ tin cậy thấp hơn giai đoạn sau. Lượng mưa trung bình toàn cầu quan trắc được giai đoạn 1980-2018 có xu thế tăng/giảm rõ ràng hơn so với các giai đoạn khác của thời kỳ 1901-2018, rõ ràng nhất ở các khu vực vĩ độ trung bình, vĩ độ cao, khu vực Trung Á và Đông Nam Á của Bắc bán cầu.
Xu thế giảm xảy ra chủ yếu ở Nam bán cầu như miền Nam Châu Phi, Châu Úc. Như vậy, biểu hiện chính của biến đổi khí hậu toàn cầu: - Nhiệt độ bề mặt toàn cầu giai đoạn 2005-2016 đã tăng khoảng 0,87°C (0,76÷0,98°C) so với thời kì tiền công nghiệp (1850-1900). - Từ năm 1975 trở lại đây nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,15-0,2°C/thập kỉ. Trong bốn thập kỷ gần đây, ghi nhận được mức tăng cao nhất trong khoảng thời gian quan trắc từ năm 1850 đến nay.
- Xu thế của nhiệt độ cực trị ở vùng vĩ độ cao có đặc điểm chung là tăng nhanh hơn so với vùng vĩ độ thấp; nhiệt độ tối thấp tăng nhanh hơn so với nhiệt độ tối cao. - Số ngày và số đêm lạnh có xu thế giảm, số ngày và đêm ấm cùng với hiện tượng nắng nóng có xu thế tăng rõ rệt trên quy mô toàn cầu. - Lượng mưa trung bình toàn cầu quan trắc được trong giai đoạn 1980-2018 tăng nhanh hơn so với giai đoạn 1901-2018. - Hạn hán có xu thế biến đổi không đồng nhất trên quy mô toàn cầu, tuy nhiên, các đợt hạn xảy ra ngày càng khắc nghiệt và kéo dài hơn.
- Số lượng bão mạnh có xu thế tăng. Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu tại Việt Nam Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Tác động của biến đổi khí hậu đối với nước ta là rất nghiêm trọng, là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước. Trong những năm qua, dưới tác động của biến đổi khí hậu, tần suất và cường độ các thiên tai ngày càng gia tăng, gây nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, về kinh tế, văn hoá, xã hội, tác động xấu đến môi trường.
Việt Nam đã rất nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu, thể hiện qua các chính sách và các chương trình quốc gia. Theo các kết quả phân tích các số liệu cho thấy các yếu tố của khí hậu tại Việt Nam những năm trước đây có những đặc điểm dưới đây: - Nhiệt độ trung bình năm có xu thế tăng trên phạm vi cả nước, với mức tăng trung bình toàn Việt Nam 0,89°C giai đoạn 1958-2018, riêng giai đoạn 1986-2018 tăng 0,74°C; - Lượng mưa năm, tính trung bình trên phạm vi cả nước có xu thế tăng nhẹ 2,1% trong giai đoạn 1958-2018, nhưng có xu thế giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam; - Nhiệt độ tối cao tăng trên hầu hết phạm vi cả nước, nhiều kỷ lục cao của nhiệt độ được ghi nhận trong những năm gần đây; - Số ngày nắng nóng có xu thế tăng trên phạm vi cả nước; - Số ngày rét đậm, rét hại có xu thế giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc; - Số tháng hạn có xu thế tăng ở khu vực phía Bắc, giảm ở Trung Bộ và phía Nam lãnh thổ, trong đó tăng nhiều nhất ở Đồng bằng Bắc Bộ, giảm nhiều nhất ở Nam Trung Bộ; - Lượng mưa cực trị (Rx1day, Rx5day) có xu thế giảm nhiều ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ và có xu thế tăng nhiều ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; - Số cơn bão mạnh có xu thế tăng; - ENSO: Khả năng tác động của ENSO đến thời tiết, khí hậu Việt Nam có sự gia tăng. Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu 1. Tổng quan các nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên thế giới - Sản phẩm của mô hình khí hậu toàn cầu (MRI-AGCM) với độ phân giải 20 km của Viện Nghiên cứu Khí tượng thuộc Cục Khí tượng Nhật Bản, trích dẫn một sản phẩm của mô hình MRI-AGCM đối với nhiệt độ cho khu vực Việt Nam theo kịch bản phát thải khí nhà kính ở mức trung bình); - Báo cáo về kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam của nhóm nghiên cứu thuộc trường Đại học Oxford, Vương quốc Anh; - Số liệu của vệ tinh TOPEX/POSEIDON và JASON 1 từ năm 1993; - Tổng hợp của IPCC về các kịch bản nước biển dâng trong thế kỷ 21 ở các báo cáo đánh giá năm 2001 và năm 2007; - Các báo cáo về nước biển dâng của Tổ chức Tiempo thuộc Đại học Đông Anh.
- Các báo cáo của IPCC đã công bố: Báo cáo đánh giá lần thứ hai (1995), lần thứ ba (2001) và lần thứ tư (2007); - Năm 2013, IPCC đã công bố Báo cáo của Nhóm 1 (Working Group 1 - WG1), một trong 3 báo cáo chính của Báo cáo AR5.