Chương 1: Ngân hàng thƣơng mại và hoạt động tín dụng ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP Phƣơng Đông - Chi nhánh Hải Phòng Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP Phƣơng Đông - Chi nhánh Hải Phòng Sinh viên: Phạm Trang Anh - Lớp: QT1601T 2 Khoá luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng CHƢƠNG I: NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng Thƣơng mại 1. Khái niệm Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) là một định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trƣờng. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ đƣợc huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội.
Ngân hàng thƣơng mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phƣơng tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tƣợng nói trên. Theo luật số 02/1997/QH10 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam khẳng định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Trong đó hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng nhƣ: huy động vốn dƣới mọi hình thức, cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, chiết khấu chứng từ có giá, bao thanh toán, cho thuê tài chính, thấu chi, cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng và cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng khác. NHTM là loại hình ngân hàng có số lƣợng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế.
Sự có mặt của Ngân hàng thƣơng mại trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế xã hội đã chứng minh rằng: Ở đâu có một hệ thống NHTM phát triển, thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế - xã hội. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thƣơng mại Theo khái niệm trên ta có thể biết đến NHTM qua 3 hoạt động chính của nó: Hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và hoạt động trung gian. Hoạt động huy động vốn Đây là hoạt động thƣờng xuyên, liên tục, đóng vai trò quyết định trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại bởi nếu so sánh với tổng tài sản thì vốn tự có của ngân hàng chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, chủ yếu nguồn vốn hoạt động của ngân hàng có đƣợc là nhờ huy động từ bên ngoài. Ngân hàng có thể huy động vốn dƣới hình thức nhận tiền gửi tiết kiệm (có kỳ hạn, không kỳ hạn), tiền gửi Sinh viên: Phạm Trang Anh - Lớp: QT1601T 3 Khoá luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng thanh toán, tiền gửi của các tổ chức tài chính, phát hành kì phiếu, trái phiếu, vay Ngân hàng Nhà nƣớc (NHNN) và các Tổ chức tín dụng (TCTD) khác.
Thông thƣờng với các ngân hàng có uy tín, có quy mô vốn tự có lớn thì khả năng huy động vốn lớn hơn và chi phí huy động vốn cũng ít tốn kém hơn. Hoạt động sử dụng vốn: Song song với huy động vốn là hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thƣơng mại. Đây chính là việc ngân hàng sử dụng các nguồn vốn huy động đƣợc để tạo nên các tài sản khác nhau nhằm thu lợi nhuận. Các khoản mục tài sản của ngân hàng thƣơng mại bao gồm tiền mặt và ngân phiếu thanh toán, tiền gửi tại NHNN và các TCTD khác, cho vay, đầu tƣ kinh doanh khác, trong đó tập trung chủ yếu vào cho vay và đầu tƣ.
Hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính (trung gian): Hiện nay ở hầu hết các quốc gia, ngân hàng là trung gian thanh toán lớn nhất. Ngân hàng thay mặt cho khách hàng của mình thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ. Để việc thanh tóan diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm chi phí, ngân hàng đã triển khai rất nhiều loại hình dịch vụ nhƣ chuyển tiền, thanh toán (bằng séc hoặc ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, hối phiếu, L/C), cung cấp các dịch vụ bảo lãnh, trung gian giải ngân và các dịch vụ tiện ích. Hoạt động của tín dụng Ngân Hàng 1.
Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ lâu trong xã hội loài ngƣời. Tín dụng là sự tín nhiệm, tin tƣởng, tên gọi này xuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng. Trong quan hệ tín dụng, ngƣời cho vay sẽ cho ngƣời cần vay vốn theo các điều kiện đã đƣợc thỏa thuận trƣớc nhƣ thời gian cho vay, thời hạn trả nợ, lãi suất cho vay… Trong quan hệ đó, ngƣời cho vay tin tƣởng rằng ngƣời đi vay sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích, đúng các thỏa thuận, làm ăn có lãi và có khả năng hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn. Nhƣ vậy, ta có thể hiểu tín dụng NHTM nhƣ sau: “ Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có thể hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác” 1.
Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Thứ nhất, cơ sở quyết định một khoản tín dụng là lòng tin của ngân hàng về việc sử dụng vốn vay đúng mục đích của khách hàng và có khả năng Sinh viên: Phạm Trang Anh - Lớp: QT1601T 4 Khoá luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng hoàn trả nợ vay đúng hạn. Còn ngƣời đi vay thì tin tƣởng vào khả năng kiếm đƣợc tiền trong tƣơng lai để trả nợ gốc và lãi vay. Thứ hai, tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện kim) hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi quyền sở hữu chúng. Tín dụng cấp cho khách hàng là từ nguồn vốn huy động của ngân hàng mà chủ yếu là tiền gửi của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nƣớc.
Do đó, khách hàng nhận đƣợc khoản vay chỉ nắm giữ mang tính chất “tạm thời” và sử dụng vào mục đích đã cam kết với ngân hàng. Thứ ba, tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải hoàn trả vô điều kiện. Ngân hàng thực hiện chức năng “đi vay để cho vay”, do đó mọi khoản tín dụng đều phải có thời hạn để đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động khi khách hàng gửi tiền cần rút hoặc ngân hàng lại sử dụng nguồn vốn đó cho khách hàng khác vay. Chính vì khách hàng không phải là chủ sở hữu thực sự của số tiền vay nên đƣơng nhiên phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay này cho ngân hàng.
Thứ tư, giá trị tín dụng không những đƣợc bảo toàn mà còn đƣợc nâng cao nhờ lợi tức tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, bởi khách hàng phải trả giá cho quyền sử dụng vốn vay. Khoản lợi tức này luôn dƣơng để bù đắp chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Thứ năm, đặc trƣng bản chất nhất của tín dụng là tiềm ẩn rủi ro cao.
Cho dù khách hàng có thiện chí trả nợ nhƣng nếu gặp môi trƣờng kinh doanh bất lợi, biến động các chỉ số kinh tế, sự cố bất khả kháng. thì cũng dễ gây ra khó khăn trong việc trả nợ và tất yếu ngân hàng gặp RRTD. Các hình thức hoạt động tín dụng ngân hàng Căn cứ vào thời hạn tín dụng - Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn tín dụng dƣới một năm và đƣợc sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lƣu động của doanh nghiệp và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân. Với loại tín dụng này, ít có rủi ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có xảy ra thì ngân hàng có thể dự tính đƣợc.
- Tín dụng trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay từ 1 đến 5 năm. Loại tín dụng này chủ yếu đƣợc sử dụng để đầu tƣ vào việc mua sắm TSCĐ, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình Sinh viên: Phạm Trang Anh - Lớp: QT1601T 5 Khoá luận tốt nghiệp Trƣờng ĐHDL Hải Phòng nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Loại tín dụng này có mức độ rủi ro không cao vì ngân hàng có khả năng dự đoán đƣợc những biến động có thể xảy ra. - Tín dụng dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 5 năm trở lên, chủ yếu để đáp ứng về vốn dài hạn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất các công trình có quy mô lớn nhƣ các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các công trình dự án thuộc diện ƣu đãi đầu tƣ của Nhà nƣớc… Căn cứ vào bảo đảm tín dụng - Tín dụng có bảo đảm: Là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của ngƣời thứ ba, hình thức này áp dụng với những khách hàng không đủ uy tín.
- Tín dụng không có bảo đảm: Là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hay không có bảo lãnh của ngƣời thứ ba. Loại tín dụng này áp dụng cho những khách hàng truyền thống, có hệ số tín nhiệm cao. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn - Tín dụng bất động sản: Đây là các khoản tín dụng đầu tƣ vào bất động sản, bao gồm: Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai, tín dụng trung dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ, trang trại và bất động sản nƣớc ngoài. - Tín dụng công thương nghiệp: Là loại tín dụng ngắn hạn để bổ sung vốn lƣu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp và thƣơng mại.
Đây là loại phổ biến và chiếm tỷ trọng lớn, thu hút đƣợc nhiều đối tƣợng có nhu cầu về vốn. - Tín dụng nông nghiệp: Các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi gia súc.