phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ lục, khóa luận đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những lý luận cơ bản về NHTM, hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất tại NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng tín dụng và hiệu quả tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Vân Đồn. Bùi Vân Oanh – QT1502T 2 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Khoá luận tốt nghiệp Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Vân Đồn - Quảng Ninh. Mặc dù có rất nhiều cố gắng, song do tính chất phức tạp của đề tài mà kiến thức thực tế còn hạn chế nên khoá luận của em sẽ không tránh khỏi những tồn tại.
Vì vậy, với mong muốn hoàn thiện và hoàn thiện hơn nữa khoá luận của mình, đáp ứng đƣợc những đòi hỏi về mặt lý luận và mặt thực tiễn em rất mong nhận đƣợc sự chỉ bảo của thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo ThS Nguyễn Thị Tình, các cô (chú) cán bộ, nhân viên của NHNo&PTNT huyện Vân Đồn đã hƣớng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp em hoàn thành chuyên đề này. Bùi Vân Oanh – QT1502T 3 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Khoá luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHTM, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT TẠI NHTM 1. Tổng quan nghiệp vụ tín dụng của NHTM.1 Khái niệm tín dụng của NHTM Tín dụng là phương thức tài trợ có tính truyền thống của Ngân hàng.
Hình thức biểu hiện cụ thể là: Ngân hàng chuyển tiền trực tiếp cho khách hàng sử dụng theo yêu cầu hoặc mục đích tiêu dùng của khách hàng khi khách hàng đáp ứng được các yêu cầu của Ngân hàng đặt ra, sau một thời gian sử sụng phải hoàn trả cho Ngân hàng cả gốc và lãi. Đặc điểm Ngân hàng đáp ứng cho tất cả các khách hàng sử dụng vốn nhƣng khách hàng phải đáp ứng đƣợc các điều kiện của Ngân hàng đặt ra. Quy mô của các hợp đồng tín dụng từ nhỏ đến lớn, với nhu cầu vay nhỏ đến các dự án lớn mức rủi ro cao hay thấp, mức thu hồi vốn nhƣ thế nào, tài sản thế chấp và uy tín của khách hàng ra sao sẽ ảnh hƣởng đến mức lãi suất ngân hàng qui định cụ thể. Ngoài ra với thời gian sử dụng vốn khác nhau thì lãi suất cũng sẽ khác nhau.
Sự ra đời của tín dụng ngân hàng: Tín dụng là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền kinh tế hàng hoá, sự ra đời và vận động của tín dụng đƣợc bắt nguồn từ đặc điểm của sự chu chuyển vốn tiền tệ và sự cần thiết sinh lợi của vốn tạm thời nhàn rỗi cũng nhƣ nhu cầu về vốn nhƣng chƣa tích luỹ đƣợc, trong cùng một thời điểm đã hình thành một quan hệ cung cầu về tiền tệ giữa một bên là ngƣời thiếu vốn (đi vay) và một bên là ngƣời thừa vốn (cho vay). Tín dụng có nghĩa là sự vay mƣợn, sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng và sau một thời gian nhất định đƣợc quay trở lại với ngƣời sở hữu với một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu (số giá trị dôi ra đó chính là lãi trong cho vay) với những điều kiện mà hai bên đã thoả thuận với nhau. Bùi Vân Oanh – QT1502T 4 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Khoá luận tốt nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, hoạt động tín dụng không ngừng phát triển và hoàn thiện trở thành hình thức tín dụng ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trƣờng, Ngân hàng là trung gian tín dụng giữa tiết kiệm và đầu tƣ, giữa ngƣời đi vay và ngƣời cho vay.
Vì vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền giữa một bên là ngân hàng - tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên vừa là ngƣời đi vay, vừa là ngƣời cho vay. Sự ra đời của tín dụng Ngân hàng có tác động quyết định đến sự phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội, thúc đẩy lực lƣợng sản xuất góp phần quan trọng trọng việc phục hồi và phát triển kinh tế của các nƣớc trên thế giới. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế. Sản xuất phát triển mạnh sẽ thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển ở mỗi quốc gia trên thế giới.
Song để cho quá trình sản xuất đƣợc mở rộng và ngày càng hoàn thiện phải nói đến vai trò to lớn của tín dụng Ngân hàng.Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế là người trung gian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế, hoạt động tín dụng đã thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Ngân hàng ra đời gắn liền với sự vận động trong quá trình sản xuất và lƣu thông hàng hoá. Nền sản xuất hàng hoá phát triển nhanh chóng đã thúc đẩy hàng hoá - tiền tệ ngày càng sâu sắc, phức tạp và bao trùm lên mọi sinh hoạt kinh tế xã hội. Mặt khác, chính sản xuất và lƣu thông hàng hoá ra đời và đƣợc mở rộng sẽ kéo theo sự vận động vốn và là nền tảng tạo nên những tổ chức kinh doanh tiền tệ đầu tiên mang những đặc trƣng của một ngân hàng.
Vì vậy, chúng ta thấy rằng còn tồn tại quan hệ hàng hoá tiền tệ thì hoạt động tín dụng không thể mất đi mà trái lại ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ. Bởi trong nền kinh tế, tại một thời điểm tất yếu sẽ phát sinh hai loại nhu cầu là ngƣời thừa vốn cho vay để hƣởng lãi và ngƣời thiếu vốn đi vay để tiến hành sản xuất kinh doanh. Hai loại nhu cầu này ngƣợc nhau nhƣng cũng chung một đối tƣợng đó là tiền, chung nhau về tính tạm thời và cả hai bên đều thoả mãn nhu cầu và đều có lợi. Ngân hàng ra đời với vai trò là nơi hiểu biết rõ nhất về tình hình cân đối giữa cung và cầu vốn trên thị trƣờng nhƣ thế nào.Và với hoạt động tín dụng, ngân hàng đã giải quyết đƣợc hiện tƣợng thừa vốn, thiếu vốn này bằng cách huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi để phân phối lại vốn trên nguyên tắc có hoàn trả phục vụ kịp thời cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
Bùi Vân Oanh – QT1502T 5 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Khoá luận tốt nghiệp 1.Tín dụng ngân hàng tạo ra nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình sản xuất được thực hiện bình thường liên tục và phát triển nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình tái ẩn xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi quy mô sản xuất Hoạt động tín dụng ngân hàng ra đời đã biến các phƣơng tiện tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thành những phƣơng tiện hoạt động kinh doanh có hiệu quả, động viên nhanh chóng nguồn vật tƣ, lao động và các nguồn lực sẵn có khác đƣa vào sản xuất, phục vụ và thúc đẩy sản xuất lƣu thông hàng hoá đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng. Mặt khác việc cung ứng vốn một cách kịp thời của tín dụng ngân hàng để đáp ứng đƣợc nhu cầu về vốn lƣu động, vốn cố định của các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất đƣợc liên tục tránh tình trạng ứ tắc, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có vốn để ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm thúc đẩy nhanh quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng.Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và củng cố chế độ hoạch toán kinh tế. Đặc trƣng cơ bản của tín dụng là cho vay có hoàn trả và có lợi, tức là Ngân hàng huy động vốn của doanh nghiệp khi họ có vốn nhàn rỗi và cho vay khi họ cần vốn để bổ xung cho sản xuất kinh doanh. Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng mọi điều kiện ghi trong hợp đồng tín dụng, trả nợ vay đúng hạn cả gốc và lãi.
Do đó thúc đẩy các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp tăng hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí, tăng vòng quay vốn. để tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp. Muốn vậy các doanh nghiệp phải tự vƣơn lên thông qua các hoạt động của mình, một trong những hoạt động khá quan trọng là hạch toán kinh tế. Quá trình hạch toán kinh tế là quá trình quản lý đồng vốn sao cho có hiệu quả.
Để quản lý đồng vốn có hiệu quả thì hạch toán tinh tế phải giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng vốn để nó đƣợc sử dụng đúng mục đích, tạo ra doanh lợi cho doanh nghiệp. Điều này đã thúc đẩy các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn quá trình hạch toán của đơn vị mình. Bùi Vân Oanh – QT1502T 6 Trƣờng ĐHDL Hải Phòng Khoá luận tốt nghiệp 1.Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại. Ngày nay sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn luôn gắn quan hệ kinh tế với thị trƣờng thế giới, nền kinh tế “đóng” tự cung tự cấp trƣớc đây nay đã nhƣờng chỗ cho nền kinh tế “mở” phát triển, mở rộng quan hệ kinh tế với các nƣớc trên thế giới.
Một quốc gia đƣợc gọi là phát triển thì trƣớc hết phải có một nền kinh tế chính trị ổn định, có vị thế trên thị trƣờng quốc tế, có một lƣợng vốn lớn trong đó vốn dự trữ ngoại tệ là rất quan trọng. Tín dụng ngân hàng trở thành một trong những phƣơng tiện nối liền kinh tế các nƣớc với nhau bằng các hoạt động tín dụng quốc tế nhƣ các hình thức tín dụng giữa các chính phủ, giữa các tổ chức cá nhân với chính phủ, giữa các cá nhân với cá nhân.Sự phát triển ngày càng tăng trong hoạt động ngoại thƣơng và số thành viên tham dự hoạt động ngày càng lớn làm cho nhu cầu về hoạt động tài chính càng trở nên cần thiết. Vì vậy việc tạo điều kiện thuận lợi về tài chính là một công cụ cạnh tranh có hiệu quả bên cạnh các yếu tố cạnh tranh khác nhƣ giá cả, chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ, thƣơng mại. đã vƣợt ra khỏi phạm vi của một nƣớc ra phạm vi của thế giới có tác dụng thúc đẩy nền sản xuất mang tính quốc tế hoá, hình thành thị trƣờng khu vực và thị trƣờng thế giới, tạo ra bƣớc phát triển mới trong quan hệ hợp tác và cạnh tranh giữa các nƣớc với nhau.